10 cảnh báo về an ninh môi trường Việt Nam P1

Like và chia sẻ bài viết
Hiện chưa đủ thông tin để phân tích kỹ về an ninh môi trường - còn gọi là An ninh Phi Truyền thống - vì các báo cáo Hiện trạng Môi trường và Thống kê không có đủ hạng mục thông tin cần thiết.
Trên thông tin đại chúng và các báo cáo khoa học có khá nhiều tài liệu cho thấy đã đến lúc các vấn đề an ninh môi trường (ANMT) ở nước ta cần được quan tâm kiểm soát trước khi quá muộn. ANMT theo định nghĩa của Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc (LHQ) 
“Sự khan hiếm các tài nguyên thiên nhiên, suy thoái và ô nhiễm môi trường và những hiểm hoạ có thể gây suy yếu nền kinh tế, gia tăng đói nghèo, gia tăng bất ổn chính trị, thậm chí trở thành ngòi nổ cho các cuộc xung đột và chiến tranh”. 
Báo cáo Thiên niên kỷ của Hội đồng Châu Mỹ của LHQ xác định: “ANMT là việc đảm bảo an toàn trước các mối nguy hiểm môi trường sinh ra do sự yếu kém trong quản lý hoặc thiết kế và có nguyên nhân trong nước hay xuyên quốc gia”. Xâm phạm An ninh Môi trường cần được coi là một kiểu diễn biến hòa bình
 Mất ổn định do biến dổi khí hậu
 Một dự báo khá ảm đạm là khả năng đến năm 2030 khu vực Đông Nam Á sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu. Do tan băng, lượng nước chảy ra từ các con sông băng thuộc dãy Himalaya giảm mạnh sẽ kéo theo “hàng loạt hậu quả về kinh tế - xã hội và chính trị”. Trong một bức điện (thông tin từ Wikileaks) , sứ quán Mỹ có ghi chú: “Đông Nam Á với những điều kiện chính trị không ổn định, sự bùng bổ và gia tăng dân số trẻ sẽ chịu ảnh hưởng nghiêm trọng nhất”
 Chính phủ Úc khuyến khích các quốc gia thuộc Thái Bình Dương, nơi sẽ chịu ảnh hưởng của mực nước biển tăng, nên xem xét vấn đề một cách từ từ thay vì tập trung ngay vào kịch bản xấu nhất, dù khả năng người dân của các nước đó bắt buộc phải di tản vào một thời điểm nào đó gần như là chắc chắn. Ảnh hưởng của Biến đổi Khí hậu đối với khu vực Đông Nam Á nghiêm trọng sẽ bắt đầu vào khoảng năm 2030. Khu vực sông Mekong có thể sẽ xảy ra xung đột trong điều kiện lượng nước sông giảm mạnh ảnh hưởng đến những quốc gia có liên quan
 An ninh nước đang bị xâm phạm
 Lượng nước hàng năm của Việt nam có được là khoảng 850 tỷ m3, trong đó khoảng 500 tỷ m3 là nước quá cảnh. Hiện nay chúng ta đã sử dụng khoảng 400 – 450 tỷ m3 mỗi năm. Điều đó cho thấy chúng ta đang phụ thuộc vào nguồn nước chảy từ nước ngoài đến. Các nước trên thượng nguồn các dòng sông xuyên biên giới hiện đang tích cực đắp đập giữ nước thậm chí chuyển nước sang các dòng sông khác của họ.
 Nếu như thiếu nước, chúng ta sẽ không thể phát triển được chưa nói là phải nhượng bộ các quốc gia trên thượng nguồn về nhiều mặt để có nước. Chỉ riêng lĩnh vực nước sinh hoạt, theo báo cáo của Dự án quốc gia “Đánh giá ngành nước Việt Nam”, hiện có tới 8,5 triệu dân đô thị chưa có cơ hội dùng nước sạch, 21 triệu dân nông thôn còn xa lạ với khái niệm “nước hợp vệ sinh” và 41 triệu người khác được cấp nước nhưng chất lượng nguồn nước chưa đáp ứng tiêu chuẩn nước sạch của Bộ Y tế. Đã ít nước, chúng ta lại dùng nước lãng phí và làm ô nhiễm tất cả các hệ thống sông ngòi nội địa, khiến cho mối đe dọa an ninh nguồn nước là mỗi đe dọa hàng đầu.
 Cho đến 2005, tình hình khan hiếm nước trên lưu vực sông Đồng Nai đã đến mức báo động khẩn cấp. Năm 2005 bình quân đầu người 2486 m3/năm dưới ngưỡng 4000 m3/người là mức thiếu nước theo tiêu chuẩn Hội Tài nguyên nước Quốc tế (IWRA). Theo dự báo của Cục Thủy Lợi Bộ NN và PTNT thì năm 2010 chỉ còn ở mức 2098 m3/người/năm (84% so với 2005); năm 2020 : 1770 m3/người/năm (71,2% so với 2005); năm 2040: 1475 m3/người/năm (59,3% so với 2005) là mức khan hiếm nước.
 Trong tương lai, do ảnh hưởng biến đổi khí hậu, nước biển dâng và hàng loạt công trình thủy điện của các nước trong khu vực sông Mekong. Theo “quy hoạch’ của các nước trong lưu vực thì hàng trăm dự án thủy điện chằng chịt trên các nhánh chính và nhánh rẽ của dòng sông sẽ làm cho dòng sông bị chia cắt thành nhiều đoạn và ngăn cách con đường sinh tồn của các loài thủy sản vốn đang nuôi sống hàng triệu người dân.
 Biến động môi trường liên quan đến biến đổi khí hậu và khai thác vô độ nguồn thủy điện thượng nguồn có rất nhiều khả năng dẫn đến tình trạng tị nạn môi trường ở khu vực nông thôn đồng bằng sông Cửu Long - ĐBSCL. Vùng châu thổ này là nơi sinh sống của 18 triệu người, tương đương với 22% dân số Việt Nam cung cấp tới 40% diện tích đất canh tác và đóng góp hơn một phần tư GDP của cả nước. Một nửa số gạo ở Việt Nam, trong đó khoảng 90% lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam, 60% tôm cá và 80% trái cây của cả nước được sản xuất từ ĐBSCL.
 Ô nhiễm xuyên biên giới chưa thể kiểm soát
 Theo thống kê chưa đầy đủ, từ 2003 đến nay, các lực lượng đã phát hiện gần 3.000 container chứa hàng chục nghìn tấn ắc-quy chì phế thải và chất thải công nghiệp các loại nhập trái phép vào các cảng khu vực Hải Phòng. Tuy nhiên, điều đáng nói là việc nhập khẩu rác thải công nghiệp về các cảng diễn ra từ nhiều năm nay, nhưng vẫn chưa có giải pháp hữu hiệu để răn đe, phòng ngừa và xử lý.
 Thống kê của Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm môi trường Công an Hải Phòng cho thấy trong 3 năm (2003-2006) đã có gần 2.300 container chứa gần 37.000 tấn ắc-quy chì phế thải đã được nhập vào cảng Hải Phòng.Trong hai năm 2008 - 2009, tiếp tục phát hiện 340 container rác phế liệu và hàng chục container ắc-quy chì phế thải, vi mạch điện tử được nhập cảng. Và từ đầu năm 2010 tới nay, cảng Hải Phòng có hơn 300 container chất thải vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường lưu bãi chưa biết xử lý thế nào.
 Nguyên nhân đẫn đến thực trạng trên là việc nhập khẩu "rác" thải từ các nước tiên tiến về nước thường mang lại lợi nhuận cao khiến không ít doanh nghiệp trong nước tìm cách "lách luật", ngụy trang dưới nhiều hình thức khác nhau với danh nghĩa hợp pháp nhằm thu lợi bất chính.
 Thủ đoạn vận chuyển, nhập rác trái phép vào nước ta được núp dưới hình thức ký hợp đồng xuất nhập khẩu hoặc tạm nhập tái xuất sang nước thứ 3 với những mặt hàng hợp pháp khi làm thủ tục khai báo, được nguỵ trang rất tinh vi, nhưng thực chất bên trong lại là chất phế thải. Khi bị phát hiện, các doanh nghiệp trong nước đứng tên hợp đồng thường có công văn từ chối việc nhận hàng.
 Nghèo đói do môi trường gia tăng
 Suy thoái môi trường và tài nguyên là một lý do của nghèo đói. Hiện chưa có thống kê tách bạch là trong số người nghèo Việt Mam có bao nhiêu % là do môi trường suy thoái. Tuy nhiên những vấn đề về nghèo do khô hạn và lũ lụt miền Trung, do khô hạn ở đồng bằng sông Cửu Long, do nông dân mất đất, do ngư trường xuốn cấp,… là điều không cần bàn cãi.
 Chỉ tính riêng vụ đông xuân 2010 đã có đến 620,000ha đất ở Đồng bằng sông Cửu Long bị nhiễm mặn. Ngư trường xuống cấp cùng với việc mất an ninh ở Biển Đông do tranh chấp đã làm số ngư dân bỏ nghề không ít. Lũ lụt và hạn hán cũng có ảnh hưởng quan trọng đến nền kinh tế và văn hóa của khu vực này.
 Trong những năm gần đây, những trận ngập lụt và hạn hán đan xen đang tăng lên cả về mức độ và tần suất khiến cho đã có một bộ phận người dân định cư sang Campuchia.Thiên tai cùng với sức ép lên môi trường do sự phát triển kinh tế xã hội quá nhanh ở Nam Bộ và các quốc gia thượng nguồn ở Đông Nam Á khác, cộng thêm những đe dọa từ biến đổi khí hậu, đang đẩy những người sống dựa vào chúng vào tình trạng nguy hiểm.
 Trước nguy cơ này, người dân Nam Bộ thích nghi bằng nhiều cách khác nhau. Một trong những cơ chế thích nghi là di cư mà chính xác hơn phải gọi là tị nạn môi trường. Có hai hướng di cư chính: di cư ra vùng đô thị đang phát triển mạnh và di cư sang Campuchia. Việc thiếu các nguồn sinh kế thay thế, việc khó kiếm sống trên mặt nước ngập, cùng với những món nợ ngày càng tăng có thể góp phần đưa đến các quyết định di cư ở Đồng bằng sông Cửu Long.
 Những người sống phụ thuộc trực tiếp vào nông nghiệp (nông dân trồng lúa) đặc biệt dễ bị tổn thương khi những trận lụt, nhiễm mặn và hạn hán liên tiếp phá hoại mùa màng.. Trong mùa lụt, người dân di cư theo mùa đến các trung tâm đô thị để tìm việc làm và cải thiện sinh kế. Như một cơ chế ứng phó cực đoan,nạn buôn người (có vẻ như kể cả phong trào lấy chồng ngoại quốc ồ ạt) cũng là một cách thức di cư mà một số gia đình, trước những sức ép liên quan đến suy thoái môi trường, đã phải chấp nhận. Trong tương lai, cứ mười người Việt Nam lại có một người phải đối mặt với nguy cơ mất chỗ ở khi mực nước biển dâng tại châu thổ sông Cửu Long .
 Xung đột môi trường ngày càng căng thẳng
 Năm 2010 số lượng vụ khiếu kiện đông người tăng 30% so với năm 2009 và có xu hướng ngày càng căng thẳng. Ngoài khiếu kiện đông người do người dân tiến hành, còn xuất hiện sự tranh chấp giữa các tỉnh/thành phố với nhau hoặc với doanh nghiệp về nguồn nước, rừng, đất đai.
Viết và chia sẻ bình luận: Like để cập nhật các bài viết qua facebook. Cảm ơn bạn đã ghé thăm, ủng hộ!

About Tứ Đoàn Ngọc

Đoàn Ngọc Tứ chào mừng bạn tới với website và cảm ơn bạn đã ủng hộ trang này.