Khắc khoải những dòng sông

Like và chia sẻ bài viết
(TN&MT) - Hệ lụy từ các công trình thủy điện đang dần hiện hữu. Cái giá phải trả cho việc khai thác quá đà nguồn “vàng trắng” sẽ khó có thể tính hết được, bởi nó không chỉ diễn ra trong một vài năm mà còn kéo dài dai dẳng, ảnh hưởng đến nhiều thế hệ.

Hai “công trình sai lầm thế kỷ”
Ngoài công trình “sai lầm thế kỷ” là thủy điện An Khê - Ka Nắk (Gia Lai), Tây Nguyên còn một dự án thủy điện công suất lớn khác có quy trình vận hành tương tự - Dự án thủy điện Thượng Kon Tum. Nếu thủy điện này được đưa vào hoạt động, cũng chặn nước, nắn dòng sông, gây nguy cơ khốn khổ cho hàng triệu dân vùng hạ du.
Sông Sê San khô hạn khi bị hàng loạt thủy điện chặn dòng
Dự án thủy điện Thượng Kon Tum (huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum) do Công ty Cổ phần Thủy điện Vĩnh Sơn - Sông Hinh làm chủ đầu tư với tổng vốn đầu tư khoảng 5.744 tỷ đồng, công suất 220MW, điện lượng trung bình đạt gần 1,1 tỷ kWh/năm. Theo kế hoạch, công trình này dự kiến hoàn tất trong năm 2014 (khởi công ngày 27/9/2009), nhưng đến nay, vì nhiều lý do nhà máy vẫn chưa phát điện.

Theo địa lý tự nhiên, sông Đắk SNghé nằm trọn trong cao nguyên Kon Tum, chảy từ độ cao 1.780 m, băng qua nhiều dãy núi rồi đổ về sông Đắk Bla. Trên đường đi, dòng sông cung cấp nguồn nước dồi dào cho các huyện Kon Plông, Kon Rẫy và TP. Kon Tum. Ngoài ra, lượng nước từ sông Đắk SNghé khi hợp lưu sẽ chiếm hơn 35% lượng nước của sông Đak Bla. Theo thiết kế, chủ đầu tư sẽ thi công đập ngăn sông Đắk SNghé ở khu vực thượng nguồn (xã Ngọc Tem, huyện Kon Plông). Đập ngăn sông Đắk SNghé tạo thành một hồ chứa nước khổng lồ, có thể trữ đến 150 triệu m3 nước, diện tích mặt hồ trải rộng khoảng 7 km2.
Tương tự An Khê - Ka Nak, thủy điện Thượng Kon Tum cũng được thiết kế theo kiểu không trả nước về cho hạ du mà chuyển dòng về lưu vực sông Trà Khúc (tỉnh Quảng Ngãi). Để thực hiện việc này, người ta đang khoét núi xây một đường hầm dài khoảng 17 km để dẫn nước đến các tổ máy phát điện. Việc tận dụng độ cao này được cho là làm tăng hiệu quả công suất máy, làm lợi thêm cho nhà máy 150 triệu kWh, doanh thu tăng thêm mỗi năm ước chừng hơn 100 tỷ đồng.

Về vấn đề này, ngay từ đầu, ông Nguyễn Thanh Cao, Chủ tịch Liên hiệp Hội khoa học kỹ thuật tỉnh Kon Tum đã tỏ ra lo lắng, việc chuyển nước từ sông Đắk SNghé sang sông Trà Khúc sẽ tác động tiêu cực đến tính đa dạng sinh học và sinh kế vùng hạ du. Bởi, khoảng 20 km dòng sông tính từ đập thủy điện đến đoạn hợp lưu với sông Đắk Bla chỉ có các con suối nhỏ nên thường cạn kiệt vào mùa khô. Không đủ nước nguy cơ hạ nguồn Đắk SNghé, Đắk Bla trở thành “sông chết”.

Hậu họa…
Khi dòng Đắk Bla “sổ mũi”, hạ nguồn sẽ phải “hắt hơi” bởi đây là 1 trong 3 chi lưu lớn của sông Sê San huyền thoại. Mà sông Sê San giờ này, cũng đâu còn “bình yên” khi mà con người đã biến nó thành “dòng sông năng lượng” với chi chít các thủy điện bậc thang đang hàng ngày vận hành như: Ia Ly, Sê San 3, Sê San 3A, Sê San 4 và Sê San 4A.

Riêng Thủy điện Sê San 4A (xã Ia O, huyện Ia Grai, Gia Lai, khởi công vào đầu năm 2008, hoàn thành vào cuối năm 2011) với công suất 63MW lại được thiết kế ngay tại hồ điều hòa nước sông Sê San, nằm phía hạ lưu Thủy điện Sê San 4. Khi Thủy điện này đi vào hoạt động, hồ điều hòa này đã mất tác dụng điều chỉnh dòng chảy hạ lưu sông Sê San ở phía nước ta và cả nước bạn Campuchia.

Theo ông Đinh Văn Nhẫn, Giám đốc Công ty Thủy điện Sê San 4, khi Thủy điện Sê San 4A tích nước, hạ lưu sông Sê San cạn khô. “Khi xây dựng Thủy điện Sê San 4, Ủy hội sông Mê Kông đã yêu cầu Việt Nam phải xây dựng hồ điều hòa với dung tích 25 triệu m³ nước để đảm bảo điều tiết khu vực hạ du. Không hiểu sao tỉnh Gia Lai lại cho xây dựng Thủy điện Sê San 4A ngay tại hồ điều hòa?” - ông Giám đốc thắc mắc.
Môi trường sinh thái quanh lưu vực sông Sê San bị hủy hoại nặng nề
Đến đây, ta thử làm phép so sánh, với công suất chỉ 173 MW nhưng Thủy điện An Khê - Ka Nắk đã gây hậu quả nghiêm trọng cho vùng hạ du sông Bak, thử tưởng tượng Thủy điện Thượng Kon Tum với công suất 220MW sẽ tác động lớn đến nhường nào cho hệ sinh thái, chất lượng nước, dòng chảy và sinh kế của hàng vạn, thậm chí hàng triệu người dân sống ven bờ sông?

Tuy vậy, hệ lụy của việc này vẫn chưa dừng lại ở đây, bởi phía cực Nam của Tổ quốc ta nằm ở cuối dòng Mê Kông, mà nước từ các dòng sông trên cũng đổ vào khu vực này.
Cụ thể, từ Bắc và Trung Tây Nguyên, sông Sê San chảy sang lãnh thổ nước bạn Campuchia rồi nhập vào sông Sê-rê-pôk (bắt nguồn từ tỉnh Đắk Lắk - nơi cũng đang khô hạn do thủy điện gây ra) ở gần tỉnh Stung Treng. Ở phía trên Phnôm Pênh, nó hợp lưu với Biển Hồ (Tonlé Sap). Bắt đầu từ Phnôm Pênh, nó chia thành 2 nhánh: bên phải là sông Ba Thắc (sang Việt Nam gọi là Hậu Giang hay sông Hậu) và bên trái là Mê Kông (sang Việt Nam gọi làTiền Giang hay sông Tiền), cả hai đều chảy vào khu vực đồng bằng châu thổ rộng lớn ở Nam Bộ Việt Nam, dài chừng 220 - 250 km mỗi sông. Tại Việt Nam, sông Mê Kông còn có tên gọi là sông Lớn, sông Cái. Tập hợp của cả 9 nhánh sông lớn tại Việt Nam được gọi chung là sông Cửu Long.

Tới đây, ta có thể hiểu rõ, việc chặn nước nắn dòng sông như ta đang làm kiểu gì cũng mang đến hậu quả khôn lường. Việt Nam được mệnh danh là nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới, vựa lúa Đồng bằng sông Cửu Long - nơi phụ thuộc rất lớn vào nguồn nước từ các dòng sông trên đóng góp tới một nửa sản lượng. Hiện tại, tình hình hạn hán, xâm nhập mặn đang ngày càng trở nên trầm trọng khi sông Mê Kông không cung cấp đủ lượng nước cần thiết cho nhu cầu sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của người dân. Khoảng 18 triệu dân sống ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long đang phải trải qua đợt hạn hán và xâm nhập mặn lịch sử, khiến nước mặn lấn sâu vào đất liền từ 70 - 90 km, sâu hơn trung bình nhiều năm từ 15 - 20 km, làm hàng trăm ngàn ha lúa, cây trái, ao đầm thủy sản bị thiệt hại.

Đương nhiên, nguyên nhân của vấn đề này không phải hoàn toàn do ta mà do Trung Quốc - nơi mà hơn nửa chiều dài sông Mê Kông chảy qua cũng đang trữ nước cho hoạt động thủy điện. Người Trung Quốc đang tỏ rõ quyền kiểm soát và sử dụng thực sự đối với sông Mê Kông (một trong 10 con sông lớn nhất thế giới) thông qua việc xả hoặc không xả “chiếc van nước khổng lồ” này.

Đó là chưa kể những quốc gia nằm phía trên lưu vực sông Mê Kông cũng đang xây dựng những thủy điện lớn, mà Việt Nam nằm ở đoạn cuối của con sông này nên phải gánh chịu hậu quả nặng nề nhất. Hiện tại, nước ta đã mở hết tất cả các kênh ngoại giao với mục đích đưa nước về khu vực hạ lưu sông Mê Kông song phía Bắc Kinh đang tỏ ra khá hời hợt trong vấn đề này. Chưa hết, theo quy hoạch của Trung Quốc, đến năm 2020, sẽ có 14 dự án thủy điện trên dòng chính sông Mê Kông.

Hiện tại, ở thượng nguồn sông Mê Kông đoạn qua Trung Quốc đã mọc lên 6 đập thủy điện nằm san sát nhau. Chúng đều là các đập lớn, công suất lắp máy lên đến 1.500 MW, đặc biệt Dự án Nọa Trác Độ công suất lên đến 5.850 MW, đang gây nhiều tác hại cho vùng hạ nguồn. Đối với Việt Nam, việc các dự án này trữ nước để phát điện khiến vùng Đồng bằng sông Cửu Long năm nay mất mùa nước nổi, thiệt hại sinh kế nghiêm trọng.

Người xưa có câu: “thượng nguồn tích thủy, hạ nguồn khan”. Vậy, trong điều kiện có thể, tại sao ta không tự cứu lấy mình mà phải cầu cạnh người?

Bài & ảnh: Ngọc Linh
Viết và chia sẻ bình luận: Like để cập nhật các bài viết qua facebook. Cảm ơn bạn đã ghé thăm, ủng hộ!

About Tứ Đoàn Ngọc

Đoàn Ngọc Tứ chào mừng bạn tới với website và cảm ơn bạn đã ủng hộ trang này.