Hệ thống sông ngòi Việt Nam (Phần 2)

Like và chia sẻ bài viết
IV. HỆ THỐNG SÔNG MÃ: Hệ thống sông Mã gồm dòng chính là sông Mã và 2 phụ lưu lớn là sông Chu, sông Bưởi. Hệ thống sông này có tổng chiều dài là 881 km, tổng diện tích lưu vực là 39.756 km², trong đó có 17.520 km² nằm trong lãnh thổ Việt Nam..

1. Sông Mã:
- Sông Mã là một con sông của Việt Nam và Lào có chiều dài 512 km, trong đó phần trên lãnh thổ Việt Nam dài 410 km và phần trên lãnh thổ Lào dài 102 km.
- Sông Mã có hai nguồn chính, nguồn thứ nhất từ phía Nam tỉnh Điện Biên (núi Tuần Giáo),chảy qua huyện Sông Mã của tỉnh Sơn La rồi qua lãnh thổ Lào,nguồn thứ hai bắt đầu từ sườn phía Bambusao. Hai nguồn này đều đổ vào Thanh Hóa qua địa phận tỉnh Sầm Nưa-Lào. Tại Thanh Hóa, sông chảy qua các huyện phía Bắc của tỉnh, hội lưu với sông Chu rồi đổ ra vịnh Bắc Bộ ở cửa Hới nằm giữa huyện Hoằng Hóa và thị xã Sầm Sơn cùng hai cửa phụ là Lạch Trường và cửa Lèn.Lưu vực của sông Mã rộng 28.400 km², phần ở Việt Nam rộng 17.600 km².
- Các phụ lưu lớn của sông Mã là sông Chu, sông Bưởi, sông Cầu Chày đều hợp lưu với sông Mã trên địa phận Thanh Hóa. Ngoài ra còn có các phụ lưu nhỏ như sông Lũng, sông Sơn Trà, sông Nậm Soi.
- Theo dân gian, sông có tên gọi "Mã" vì dòng nước chảy xiết như ngựa phi. Ở Lào, sông Mã được gọi là nậm Mã với nậm nghĩa là sông thường dùng ở miền Trung Lào.Sử Việt còn gọi sông Mã là Lỗi Giang.
- Hệ thống sông mã nối với sông đáy qua các sông, kênh: vạc, yên mô, kênh ngã, sông lèn,
- Kênh De, sông trường và kênh choán. Như vậy từ cảng Lệ Môn trên sông mã có thể đi bằng đường sông đến Hòa Bình, Yên Bái, Tuyên Quang, Phả Lại…

2. Sông Bưởi: Sông Bưởi hay còn gọi là sông Sòi,là phụ lưu của sông Mã. Sông này ban đầu có hai nhánh, chảy gần như song song. Một nhánh bắt nguồn từ vùng Núi Chu, gần Suối Rút (huyện Mai Châu – tỉnh Hòa Bình), ở độ cao 450 m, nhánh kia bắt nguồn từ gần thị trấn Mường Khến, huyện Tân Lạc cùng tỉnh. Cả hai nhánh này đều nằm ở phía nam hồ Hòa Bình, cách hồ này khoảng 7-10 km. Hai nhánh này hợp lưu tại khu vực phía tây nam thị trấn Vụ Bản thành một dòng trước khi hợp lưu với nhánh thứ ba bên tả ngạn cách đó khoảng 2 km rồi chảy qua huyện Lạc Sơn cùng tỉnh, vượt qua phía tây Vườn quốc gia Cúc Phương. Đến gần Dốc Lào trong địa phận xã Thạch Lâm huyện Thạch Thành tỉnh Thanh Hóa, nó hợp lưu với một nhánh nhỏ phía hữu ngạn rồi chảy tiếp qua địa phận huyện Thạch Thành và cuối cùng đổ vào bờ trái sông Mã, nơi giáp ranh các xã Vĩnh Thái, Vĩnh Khang (huyện Vĩnh Lộc) và Yên Thái (huyện Yên Định), tỉnh Thanh Hóa. Tổng chiều dài 130 km. Diện tích lưu vực 1.790 km.

3. Sông Chu: Sông Chu hay còn gọi là sông Lường (ngôn ngữ Tày, Thái gọi là Nậm Sam; nguyên gốc gọi là sông Sủ, người Pháp viết thành Chu), là phụ lưu lớn nhất của sông Mã. Bắt nguồn từ vùng núi Houa (2.062 m), tây bắc Sầm Nưa ở Lào, chảy theo hướng tây bắc - đông nam, đổ vào bờ phải sông Mã ở Ngã Ba Giàng (Ngã Ba Đầu, Ngã Ba Bông), cách cửa sông 25,5 km. Dài 325 km, phần chảy ở Việt Nam là 160 km, qua các huyện Quế Phong (Nghệ An); Thường Xuân, Thọ Xuân (Thanh Hóa). Diện tích lưu vực 7.580 km², phần ở Việt Nam 3.010 km².

4. Sông Cầu Chày: Sông Cầu Chày hay sông Ngọc Chùy, là chi lưu của sông Mã.Sông Cầu Chày dài dài 87 km, khởi nguồn từ núi Đàn thuộc huyện Ngọc Lặc, chảy qua các huyện Lang Chánh, Thọ Xuân và Thiệu Hóa rồi hợp với sông Mã ở hạ lưu.Nước sông Cầu Chày rất đục và cạn.

5. Sông Lèn:
- Sông Lèn là một phân lưu của Sông Mã được tách ra từ sông Mã tại địa phận xã Vĩnh An, huyện Vĩnh Lộc và xã Hà Sơn, huyện Hà Trung, chảy theo hướng đông đổ ra vịnh Bắc Bộ tại cửa Lèn nằm giữa hai xã Nga Thủy, Nga Sơn và Đa Lộc, Hậu Lộc. Sông Lèn là ranh giới tự nhiên của các huyện Hà Trung, Nga Sơn (thuộc tả ngạn) với huyện Hậu Lộc (thuộc hữu ngạn).
- Sông Lèn có tổng chiều dài khoảng 34km, chảy cắt qua quốc lộ 1A tại cầu Đò Lèn, cách Hà Nội khoảng 130km về hướng nam

V. HỆ THỐNG SÔNG LAM: Hệ thống sông lam có 2 nguồn chính: nậm nơn từ dãy pu lôi và nậm mô từ cao nguyên Trấn Ninh. Chiều dài của sông tính theo nậm nơn là 530km, tính theo nậm mô dài 432km. sông Lam theo nậm mô qua cửa rào-đô lương-vinh và đổ ra biển ở cửa hội. hệ thống sông Lam có các phụ lưu quan trọng: sông con bên tả ngạn, sông ngàn phố, sông ngàn sâu bên hữu ngạn.

1. Sông Lam:
- Sông Lam, (tên gọi khác là Ngàn Cả hay Sông Cả, ở Lào là Nam Khan), là một trong 2 con sông lớn nhất ở Bắc Trung Bộ Việt Nam.
- Sông bắt nguồn từ cao nguyên Xiengkhuang, Lào. Phần chảy trên lãnh thổ Lào gọi là Nam Khan. Phần chính của dòng sông chảy qua Nghệ An, phần cuối của sông Lam hợp lưu với sông La từ Hà Tĩnh, tạo thành ranh giới của Nghệ An và Hà Tĩnh đổ ra biển tại cửa Hội.Trên lãnh thổ Việt Nam, nó chảy qua địa phận huyện Kì Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Anh Sơn, Đô Lương, Nam Đàn, giữa các huyện Thanh Chương, Hưng Nguyên, thành phố Vinh, Nghi Lộc của tỉnh Nghệ An rồi vào và Đức Thọ, Nghi Xuân, thị xã Hồng Lĩnh của tỉnh Hà Tĩnh trước khi đổ ra vịnh Bắc Bộ.
- Tổng cộng chiều dài của sông là khoảng 513 km, đoạn chảy trong nội địa Việt Nam khoảng 361km.
- Diện tích lưu vực của con sông này là 27.200 km², trong số đó 17.730 km² thuộc Việt Nam.Sông chảy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam, khi gần tới biển chảy ngược lên hướng Bắc. Có một số nhánh sông nhân tạo lấy nước từ Sông Lam như sông Đào.
- Ngàn Cả hay sông Cả là tên cũ của sông Lam. Ngày nay, sông Cả chỉ phần nhánh chính từ Nghệ An của sông Lam. Nhánh này hợp với nhánh lớn thứ hai là sông La, từ Hà Tĩnh, để tạo thành phần hạ nguồn của sông Lam. Tiếng Cả vừa hàm nghĩa là "lớn", vừa có hàm nghĩa là "mẹ", mẹ của những con sông nhỏ đổ về như Nậm Nơm, Nậm Mộ, sông Giăng, và sông La. Còn tên "sông Lam" có lẽ do màu nước xanh. Sông còn có các tên như Lam Giang, Thanh Long Giang, Lam Thủy.

2. Sông Hiếu (Nghệ An): Sông Hiếu, còn có tên gọi là sông Con, một trong những con sông lớn tại Nghệ An, có tổng chiều dài khoảng 220 km, là chi lưu lớn nhất của sông Lam, Sông được bắt nguồn từ vùng núi huyện Quế Phong, chảy quanh co theo hướng đông - nam qua Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, đến thị trấn Thái Hòa, Nghĩa Đàn đổi hướng chảy theo hướng tây nam qua huyện Tân Kỳ, Anh Sơn và hợp nhất với sông Lam tại xã Đinh Sơn, Anh Sơn.

3. Sông La:
- Sông La là một phụ lưu của sông Lam, dài 12,5 km chảy qua huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.
- Sông La là hợp lưu của hai sông Ngàn Phố (từ Hương Sơn đồ về) và sông Ngàn Sâu (từ Hương Khê và Vũ Quang) tại bến Tam Soa (Linh Cảm, Đức Thọ). Đến lượt nó lại hợp lưu với sông Cả (từ Nghệ An chảy sang) tạo thành dòng sông Lam nằm giữa 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh.
- Sông La là một dòng sông rất đẹp, có phong cảnh nên thơ, sơn thủy hữu tình là nguồn cảm ứng sáng tạo cho nhiều thi nhân và nhạc sĩ.

4. Sông Ngàn Phố:
- Sông Ngàn Phố là một phụ lưu của sông La chảy chủ yếu trong địa phận huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
- Sông Ngàn Phố bắt nguồn bằng các dòng suối nhỏ từ vùng núi Giăng Màn thuộc dãy núi Trường Sơn trong địa phận các xã Sơn Hồng, Sơn Kim 1 và Sơn Kim 2 huyện Hương Sơn, ven biên giới Việt - Lào, ở độ cao khoảng 700 m. Sông Ngàn Phố chảy gần như theo hướng Tây - Đông tới ngã ba Tam Soa (bến Tam Soa), nơi giáp ranh các xã Sơn Tân, Sơn Long (huyện Hương Sơn) với các xã Trường Sơn, Tùng Ảnh (huyện Đức Thọ). Đây cũng là nơi nó hợp lưu với sông Ngàn Sâu để tạo thành sông La.Chiều dài tối đa khoảng 71-72 km. Diện tích lưu vực 1.060 km².

5. Sông Ngàn Sâu:
- Sông Ngàn Sâu là một chi lưu chính của sông La. Sông này dài 131 km, bắt nguồn từ vùng núi Ông Giao (1.100 m) và Cũ Lân (1.014 m) thuộc dãy núi Trường Sơn nằm trên địa bàn giáp ranh của hai tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình) chảy về hướng Bắc qua huyện Hương Khê, Vũ Quang, Đức Thọ và Hương Sơn (tỉnh Hà Tĩnh) rồi hợp lưu với sông Ngàn Phố tại ngã ba Tam Soa (hay bến Tam Soa (huyện Đức Thọ) tạo thành dòng sông La.
- Ngàn Sâu có các phụ lưu là sông Tiêm, sông Rào Trổ, sông Ngàn Trươi. Toàn bộ lưu vực sông Ngàn Sâu rộng 2061 km².

6. Sông Nghèn:
- Sông Nghèn là một phân lưu của sông Lam chảy qua tỉnh Hà Tĩnh.
- Sông được bắt nguồn từ địa phận xã Trung Lương, Hồng Lĩnh, chảy quanh co theo hướng đông nam qua huyện Đức Thọ, Thị xã Hồng Lĩnh, huyện Can Lộc, Lộc Hà và hợp nhất với sông Hạ Vàng ở huyện Thạch Hà chảy theo hướng đông bắc đổ ra biển tại cửa Sót.
- Sông có chiều dài khoảng 70km, chảy qua quốc lộ 1A tại cầu Nghèn thuộc thị trấn Can Lộc.

VI. HỆ THỐNG SÔNG THU BỒN – VU GIA:
Hệ thống sông thu bồn có các chi lưu lớn: sông cái, sông bung, chảy vào sông vu gia, nhập với sông thu bồn chảy ra cửa đại và một phần chảy vào sông hàn ra vịnh đà nẵng

1. Sông Thu Bồn:
- Sông Thu Bồn, là một trong những sông nội địa lớn nhất Việt Nam,với diện tích lưu vực rộng 10,350km2. Sông bắt nguồn từ khối núi Ngọc Linh thuộc huyện Dak Glei, tỉnh Kon Tum và đổ ra biển tại cửa Đại, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam , một nhánh chảy vào sông Vĩnh Điện để đổ nước vào sông Hàn, Đà Nẵng. Trước khi đổ ra biển tại cửa Đại, một phần nước của sông chảy vào sông Trường Giang để đổ ra vịnh An Hòa Tam Quang, huyện Núi Thành. Sông Thu Bồn cùng với sông Vu Gia, hợp lưu tại Đại Lộc tạo thành hệ thống sông lớn có vai trò rất quan trọng đối với đời sống và tâm hồn người Quảng Nam. Phần lớn diện tích lưu vực sông chảy trong địa phận Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng, phần thượng nguồn một phần nằm trên đất Kon Tum và Quảng Ngãi.
- Lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn có ranh giới với các lưu vực:
+ Phía Bắc giáp lưu vực sông Cu Đê.
+ Phía Nam giáp lưu vực sông Sê San, sông Trà Bồng.
+ Phía Đông giáp biển Đông và lưu vực sông Tam Kỳ.
+ Phía Tây giáp với Lào.
- Sông bắt nguồn từ khối núi Ngọc Linh cao 2,598m thuộc huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam (Nam Quảng Nam-Bắc Kon Tum); phần thượng lưu này được gọi là Đak Di. Sông chảy ngược lên phía Bắc qua các huyện trung du của tỉnh Quảng Nam như Nam Trà My, Bắc Trà My, Tiên Phước, Hiệp Đức. Khi đi qua đây, sông nhận thêm nhiều chi lưu là các sông, suối nhỏ. Đoạn chảy qua Tiên Phước và Hiệp Đức được gọi là sông Tranh. Bắt đầu khi đi qua địa phận Quế Sơn, Duy Xuyên, sông mới bắt đầu được gọi là Thu Bồn.Khi chảy qua ranh giới giữa Duy Xuyên và Đại Lộc, Thu Bồn nhận chi lưu lớn nhất ở tả ngạn, đó là sông Vu Gia. Sông đổ ra biển Đông ở cửa Đại. Cách cửa Đại không xa ngoài khơi là cù lao Chàm. Trước khi ra biển, sông tạo ra một số phân lưu như sông Ba Chươm, sông Cổ Cò, sông Đình, sông Đò, sông Hội An.
- Thượng lưu của sông Thu Bồn có các phụ lưu cấp II lớn như Sông Khang, sông Vang, sông Tranh, sông Gềnh Gềnh. Tại thị trấn Vĩnh Điện, một phần nước của sông Thu Bồn đổ vào chi lưu Vĩnh Điện dẫn nước vào sông Hàn và đổ ra cửa Đà Nẵng.

2. Sông Vu Gia: Là một trong hai sông hợp thành hệ thống sông Thu Bồn nên cũng gọi hệ thống sông Thu Bồn-Vu Gia. Lưu vực sông Vu Gia nằm về phía bắc lưu vực sông Thu Bồn thuộc địa phận các huyện Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang, Đại Lộc và Điện Bàn tỉnh Quảng Nam, huyện Hòa Vang thành phố Đà Nẵng. Sông Vu Gia có các phụ lưu cấp II quan trọng gồm sông Bung, sông Kôn, sông Cái. Chiều dài dòng chính tính từ thượng nguồn sông Cái đến cửa Hàn (Đà Nẵng) dài 204km. Tổng diện tích lưu vực đến thị trấn Ái Nghĩa (huyện lị huyện Đại Lộc) đạt 5,180km2. Phần thượng nguồn sông Vu Gia có một phần lưu vực nằm trên đất Kon Tum, thuộc huyện Đắc Glei với tổng diện tích lưu vực đạt 500km2. Tại Ái Nghĩa, sông được gọi với một tên khác là sông Quảng Huế và đổ nước vào sông Thu Bồn. Sông được chia thành 2 chi lưu Sông Yên và sông Chu Bái. Sông Yên chảy về phía An Trạch, sau đó nhập lưu với sông Túy Loan chảy vào sông Hàn, Đà Nẵng.
Theo tính toán cơ bản , trên hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn có nhiều công trình thủy điện.

3. Sông Túy Loan:
- Sông Túy Loan, còn tên gọi khác sông Thủy Loan, là một phụ lưu của sông Cầu Đỏ (hay sông Cẩm Lệ, sông Hàn tùy theo từng đoạn), chảy hoàn toàn trong địa phận huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Sông này dài khoảng 30 km, bắt nguồn từ vùng núi Bà Nà ở phía Tây Hòa Vang. Sông chảy theo hướng Tây-Đông, đến xã xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang thì hợp lưu với sông Yên tạo thành sông Cầu Đỏ.
- Sông Túy Loan có hai chi lưu lớn là sông Lỗ Đông ở hữu ngạn từ phía Tây Nam Hòa Vang chảy tới và một sông nhỏ bên tả ngạn. Cả hai chi lưu này nhập vào sông Túy Loan tại xã Hòa Phong. Sông Lỗ Đông có một chi nhỏ là sông Đồng Nghệ.Diện tích lưu vực sông Túy Loan là 160 km².

4. Sông Hàn:
- Sông Hàn, tức Hàn Giang bắt đầu từ ngã ba sông giữa Quận Cẩm Lệ, quận Hải Châu và quận Ngũ Hành Sơn tới vịnh Đà Nẵng, tại chỗ giáp ranh giữa quận Hải Châu và quận Sơn Trà. Sông có dòng chảy từ Nam lên Bắc.
- Đoạn từ ngã ba sông nói trên ngược về phía thượng nguồn tới chỗ cầu Đỏ, được gọi là sông Cẩm Lệ. Đoạn tiếp theo về phía thượng nguồn gọi là sông Cầu Đỏ.

5. Sông Cầu Đỏ: Sông Cầu Đỏ do hai con sông Yên và sông Túy Loan (còn gọi là sông Tuy Loan) hợp lại mà thành ở xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang. Sông Yên là một phân lưu của sông Vu Gia chảy từ bên huyện Đại Lộc của tỉnh Quảng Nam sang. Còn sông Túy Loan bắt nguồn từ phía Tây huyện Hòa Vang, chảy về phía Đông; đến xã Hòa Phong thì nhận hai chi lưu là sông Lỗ Đông ở hữu ngạn từ phía Tây Nam Hòa Vang chảy tới và một sông nhỏ bên tả ngạn.

6. Sông Yên:
- Sông Yên là một phân lưu của sông Vu Gia và là một chi lưu của sông Cầu Đỏ. Sông tách ra khỏi sông Vu Gia ở chỗ giáp ranh giữa các xã Đại Hòa và Đại Nghĩa (huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam), chảy lên phía Bắc qua giáp ranh giữa xá Đại Hiệp (Đại Lộc) với các xã Điện Tiến và Điện Hồng (huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam), rồi chảy qua ranh giới xã Hòa Khương và xã Hòa Tiến, giữa xã Hòa Tiến và Hòa Phong (huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng) rồi hội lưu với sông Cầu Đỏ.
- Trên sông tại địa phận xã Hòa Khương và Hòa Tiến có đập thủy lợi An Trạch được xây từ thời Pháp thuộc.

VII. HỆ THỐNG SÔNG BA (Sông Đà Rằng): Dòng sông chính của hệ thống Sông Ba dài 388km. bắt nguồn từ các núi công ca kinh. Công plong. Chảy ra biển ở cửa đà giang tuy hòa. Một cửa sông khá rộng, tại đây có cầu đường bộ đi qua, một trong những cây cầu dài ở Việt Nam.

8. Sông Đà Rằng:
- Sông Đà Rằng (phần thượng lưu gọi là Sông Ba, Ea Pa, Ia Pa),chảy trên địa bàn ba tỉnh miền Trung Kon Tum, Gia Lai, Phú Yên. Nguồn gốc của tên Đà Rằng xuất phát từ chữ "Ea Rarang" trong tiếng Chăm, có nghĩa là "con sông lau sậy".
- Sông dài 374 km, bắt nguồn từ dãy núi Ngọc Rô, tây bắc tỉnh Kon Tum,có độ cao 1.549 mét, qua các huyện Kon Plông của tỉnh Kon Tum, KBang, Đắk Pơ, An Khê, Kông Chro, Ia Pa, Ayun Pa,Krông Pa của tỉnh Gia Lai.Trong địa phận tỉnh Phú Yên sông làm thành ranh giới tự nhiên giữa Sơn Hòa và Sông Hinh, giữa Sơn Hòa và Tây Hòa, giữa Tây Hòa và Phú Hòa, giữa Tây Hòa và thành phố Tuy Hòa rồi đổ ra biển Đông ở cửa biển Đà Diễn, phía Nam thành phó Tuy Hòa.
- Lưu vực của hệ thống sông Đà Rằng rộng 13.900 km² bao gồm cả phần phía Đông Bắc của Đăk Lăk. Các phụ lưu quan trọng nhất của sông Đà Rằng là sông Ayun (hợp lưu với Đà Rằng ở ranh giới giữa hai huyện Ayun Pa và Ia Pa), sông Krong H'Năng (hợp lưu với Đà Rằng ở ranh giới giữa Gia Lai và Phú Yên) và sông Hinh (hợp lưu huyện Sông Hinh).
- Vùng hạ lưu sông Đà Rằng từ nhiều nghìn năm trước đã có nhiều bộ tộc cư ngụ. Di tích của các nền văn minh đồ đá từng tồn tại nơi đây vẫn còn được lưu giữ, điển hình là chiếc đàn đá Tuy An.Từ thế kỷ 1, tại đây dần hình thành các quốc gia như Lâm Ấp, Chiêm Thành.Cửa biển Đà Diễn, thời kỳ từ thế kỷ 7 đến thế kỷ 15, đã từng là trung tâm thương mại quốc tế sầm uất.
- Đến năm 1471, vua Lê Thánh Tông đã hành quân vào đây trừng phạt vua Chiêm Thành vì tội quấy nhiễu vùng Hóa Châu (Quảng Nam ngày nay). Lê Thánh Tông đã khắc lên một tảng đá lớn trên núi Thạch Bi (còn gọi là núi Đá Bia), thuộc hạ lưu sông Ba, làm mốc ranh giới Đại Việt. Đây cũng là một dấu mốc lịch sử trong quá trình Nam tiến của người Việt.
- Tuy đã đánh mốc như vậy, phải hơn 100 năm sau, đến năm 1578, đô chỉ huy sứ Lương Văn Chánh, vâng mệnh chúa Nguyễn Hoàng, mới đem lưu dân từ Thanh Hóa, Nghệ An và Thuận Quảng vào khai khẩn, lập xóm làng tại vùng đồng bằng Tuy Hòa.
- Ở hạ lưu sông Đà Rằng có công trình thủy nông Đồng Cam, đảm bảo ổn định tưới tiêu cho toàn bộ đồng bằng Tuy Hòa. Công trình này được xây dựng bởi người Pháp từ thập niên 1920. Các kỹ sư tham gia xây dựng công trình gồm người Pháp, Việt và Lào; trong đó có Trần Đăng Khoa, bộ trưởng đầu tiên của Bộ Thủy lợi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và Hoàng thân Souphanouvong, cựu chủ tịch nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.Hiện đang xây dựng thủy điện Sông Ba Hạ, trên huyện Sơn Hòa.

9. Sông Hinh:
- Sông Hinh tức Hinh Hà là một phụ lưu cấp 1 phía hữu ngạn của sông Đà Rằng (sông Ba). Sông này dài 88 km và có diện tích lưu vực là 1.040 km². Đầu nguồn của sông là đỉnh núi Chư H'Mu (cao 2.051 m) ở huyện M'Drăk, phía Tây tỉnh Đăk Lăk. Cửa sông, nơi hội lưu với sông Đà Rằng, ở phía xã Đức Bình Tây, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên. Đoạn thương lưu có hướng chảy cơ bản là Tây Nam - Đông Bắc. Đoạn hạ lưu, từ vĩ độ 12°50′ đến cửa sông, có hướng chảy cơ bản là Bắc-Nam.
- Trên sông Hinh, tại địa phận xã Ea Trol, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên có công trình thủy điện sông Hinh công suất 70 MW và điện năng sản xuất là 370 KWh/năm.

VIII. HỆ THỐNG SÔNG ĐỒNG NAI: Hệ thống Sông Đồng Nai gồm các sông: Đồng Nai, Vàm Cỏ, Sài Gòn…hợp thành ,có chiều dài lớn nhất nước ta. Dòng chính dài khoảng 635 km. sông bắt nguồn từ cao nguyên lâm viên ở độ cao 1.770km, lưu vực sông nằm gần như trọn ven trên lãnh thỗ Việt Nam. Diện tích lưu vực Sông Đồng Nai khoảng 23.252 km2, nếu tính cả phụ lưu sông Sài Gòn là 29.520km2.

1. Sông Đồng Nai:
- Sông Đồng Nai là con sông lớn thứ nhì đất Nam Bộ, chỉ thua sông Cửu Long, sông còn có tên là "sông Phước Long" vì gọi tên theo phủ Phước Long cũ.Sông Đồng Nai chảy qua các tỉnh Lâm Đồng, Đăk Nông, Bình Phước, Đồng Nai, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh với chiều dài trên 437 km , nếu tính từ đầu nguồn sông Đa Đưng thì dài 586 km còn nếu tính từ điểm hợp lưu với sông Đa Nhim phía dưới thác Pongua thì dài 487 km. Sông Đồng Nai đổ vào biển Đông tại khu vực huyện Cần Giờ. Các phụ lưu chính của nó gồm sông Đa Nhim, sông Bé, sông La Ngà, sông Sài Gòn, sông Đạ Hoai và sông Vàm Cỏ. Các phân lưu của nó có tên gọi là sông Lòng Tàu (sông Ngã Bảy), sông Đồng Tranh, sông Thị Vải, sông Soài Rạp (sông Soi) v.v…
- Nguồn sông chính xuất phát từ cao nguyên Lâm Viên, tỉnh Lâm Đồng. Đoạn trên sông mang tên sông Đắc Dung. Đến thị trấn Uyên Hưng thì sông Đồng Nai chảy theo hướng Bắc-Nam ôm lấy cù lao Tân Uyên và Cù Lao Phố. Sông chảy qua thị xã Biên Hòa và Nhà Bè thì có thêm chi lưu là sông Sài Gòn.
- Gia Định là rẽ theo sông Sài Gòn lên phía Tây Ninh, còn Đồng Nai là theo dòng sông lên Biên Hòa.
- Nhánh chính sông Đồng Nai ở khúc hạ lưu thường gọi là sông Nhà Bè. Sách xưa gọi sông này là "Phước Bình". Sông Đồng Nai hoà với nước của sông Vàm Cỏ từ Long An đổ về trước khi tuôn ra biển Đông.
- Hai phân lưu chính của sông Đồng Nai là sông Soài Rạp đổ vào vịnh Soài Rạp tại cửa Soài Rạp (rộng 2.000 - 3.000 m, sâu 6 - 8 m) ở huyện Cần Giờ và sông Lòng Tàu (sâu 15-20m) đổ vào vịnh Gành Rái.
- Sông Đồng Nai có một số cảng lớn như cảng Cát Lái, cảng Bình Dương. Đường sắt và Quốc lộ 1A vượt sông này qua cầu Đồng Nai ở Biên Hòa.
- Đồng Nai nguyên tên phiên âm tiếng Miên là "Nông-nại". Đây là vùng đất Chân Lạp người Việt vào khai phá trước tiên.
- Cù Lao Phố trên sông Đồng Nai là nơi phát triển sầm uất của cộng đồng người Minh Hương trước khi vùng đất này trở thành đơn vị hành chính chính thức của Đàng Trong năm 1698.

2. Sông Đa Nhim:
- Sông Đa Nhim bắt nguồn từ phía Bắc núi Gia Rích (1.923m), huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng, gần ranh giới với hai tỉnh Khánh Hoà và Ninh Thuận. Sông chảy qua các huyện Đơn Dương, Đức Trọng và đổ vào sông Đa Dâng gần thác Pongour.
- Trên sông Đa Nhim có hồ Đa Nhim (hay là hồ Đơn Dương) đây là một hồ nhân tạo trên địa bàn huyện Đơn Dương. Ở đây có đặt nhà máy thuỷ điện Đa Nhim. Từ thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận, ngược quốc lộ 27 chừng 50 km, ta sẽ nhìn thấy hai ống thủy lực chạy song song, dài khoảng 2 km, dẫn nước từ trên núi xuống nhà máy nằm dưới chân đèo Ngoạn Mục trông rất đẹp và kỳ vĩ.
- Sông Đa Nhim không chỉ có nguồn lợi thuỷ điện, mà còn tạo ra nhiều cảnh quan đẹp trở thành những điểm du lịch nổi tiếng của tỉnh Lâm Đồng. Dọc sông có 3 thác chính: thác Liên Khương, thác Gougah và thác Pongour.
- Sông Đa Nhim góp nước vào sông Đắc Dung ở Đại Ninh. Ở khoảng hợp lưu với sông Bé thì có đập Trị An chắn dòng sông, tạo nên hồ nước nhân tạo lớn nhất miền Nam, Hồ Trị An cung cấp nước cho nhà máy thủy điện Trị An. Hồ Trị An cũng là nơi sông La Ngà từ triền núi phía nam cao nguyên Di Linh dồn nước về.

3. Sông Bé:
- Sông Bé là một phụ lưu về phía hữu ngạn sông Đồng Nai chảy qua các tỉnh Bình Phước, Bình Dương và Đồng Nai.Sông được bắt nguồn từ hồ Thác Mơ, huyện Phước Long, Bình Phước.Từ đây sông chảy theo hướng tây bắc đến xã Hưng Phước, huyện Bù Đốp đổi theo hướng tây nam, chảy đến địa phận xã Bình Thắng, Phước Long sông đổi theo hướng nam. Sông tiếp tục chảy đến huyện Phú Giáo, Bình Dương thì đổi sang hướng đông nam và đổ vào sông Đồng Nai tại nhà máy thuỷ điện Trị An cách hồ Trị An khoảng 10km về hướng tây
- Sông có chiều dài khoảng 350km, chảy qua và làm ranh giới tự nhiên giữa các huyện Phước Long và Bù Đốp, Phước Long và Lộc Ninh, Phước Long và Bình Long, Bình Long và thị xã Đồng Xoài, Bình Long và Phú Giáo, Bình Dương, giữa huyện Tân Uyên, Bình Dương và Vĩnh Cửu - Đồng Nai

4. Sông La Ngà:
- Sông La Ngà là phụ lưu cấp I về phía tả ngạn của sông Đồng Nai,bắt nguồn từ cao nguyên Di Linh thuộc thị xã Bảo Lộc thuộc tỉnh Lâm Đồng, chảy qua các tỉnh Lâm Đồng, Bình Thuận, Đồng Nai với chiều dài trên 272 km và lưu vực 4.710 km² rồi đổ vào hồ Trị An.
- Ở thượng nguồn sông La Ngà là hợp lưu của hệ thống nhiều sông suối nhỏ, nhưng về tổng thể có thể coi là ba sông nhánh bắt nguồn từ phía tây, đông bắc và đông thị xã Bảo Lộc. Chúng hợp lưu ở phía nam cách thị xã Bảo Lộc khoảng 7 km. Từ đây sông La Ngà chảy khoảng 30 km thì tới hồ chứa nước cho nhà máy thủy điện Hàm Thuận công suất 300 MW của cụm nhà máy thủy điện Hàm Thuận-Đa Mi nằm trên địa phận hai tỉnh Lâm Đồng và Bình Thuận. Từ hồ chứa nước này sông La Ngà tách làm hai nhánh, một nhánh chảy theo hướng đông bắc-tây nam để dẫn nước tới hồ chứa nước cho nhà máy thủy điện Đa Mi công suất 175 MW (ở phía tây tây nam hồ chứa nước của nhà máy thủy điện Hàm Thuận). Nhánh phía đông chảy vòng thúng rồi hợp lưu với nhánh thoát nước của nhà máy thủy điện Đa Mi trong địa phận huyện Tánh Linh tỉnh Bình Thuận rồi chảy tới ranh giới với tỉnh Đồng Nai tiếp theo nó tạo thành ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Đồng Nai và Bình Thuận rồi sau đó chảy trong địa phận tỉnh Đồng Nai tới hồ Trị An.

5. Sông Sài Gòn:
- Sông Sài Gòn bắt nguồn từ lưu vực cao nguyên Hớn Quảng,tỉnh Bình Phước chảy qua địa phận tỉnh Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh, rồi đổ vào sông Đồng Nai ở mũi Đèn Đỏ thuộc huyện Nhà Bè và gọi là sông Nhà Bè (tức là dòng hợp lưu của hai sông Đồng Nai và Sài Gòn).
- Sông Sài Gòn dài 256 km, chảy dọc trên địa phận thành phố dài khoảng 80 km, có lưu lượng trung bình vào khoảng 54 m³/s, bề rộng tại thành phố khoảng 225 m đến 370 m, độ sâu có chỗ tới 20 m, diện tích lưu vực trên 5.000 km².
- Vì chảy qua nhiều vùng nên sông mang nhiều tên khác nhau:
- Từ đầu nguồn đến gần chợ Thủ Dầu Một (Bình Dương) gọi là sông Ngã Cái.
- Đoạn từ chợ Thủ Dầu Một đến cư xá Thanh Đa (Thành phố Hồ Chí Minh) gọi là sông Thủ Khúc.
- Đoạn cư xá Thanh Đa cho đến chỗ đổ vào sông Đồng Nai (mũi Đèn Đỏ) có tên là sông Sài Gòn hay sông Bến Nghé (tên chữ là Ngưu Chử giang, trong sách Gia Định thành thông chí ghi làTân Bình giang, vì ngày xưa chảy qua phủ Tân Bình).

6. Sông Bến Nghé:
- Sông Bến Nghé là một đoạn sông Sài Gòn chảy qua Thành phố Hồ Chí Minh trước khi hiệp với sông Đồng Nai ở Nhà Bè.
- Tên gọi Bến Nghé hiện có hai thuyết:
+ Tục truyền sông này nhiều cá sấu, từng đàn đuổi nhau kêu gầm như tiếng trâu rống, cho nên gọi tên như thế (nghé tức trâu con).
+ Bến Nghé có nguồn gốc từ tiếng Khmer: Kompong: bến, Kon Krabei: con trâu : Bến Nghé là cái bến mà người ta thường cho trâu, bò ra tắm.Có nhiều địa danh được gọi là bến như: rạch Bến Nghé (Nhà Bè), rạch Bến Tượng (Sông Bé)...Cho nên Bến Nghé có lúc còn được gọi là Bến Trâu như trong bài.
- Tên Bến Nghé, ban đầu là tên của một bến nước, sau chỉ một con sông, cuối cùng dùng chỉ một địa phương (vùng trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay). Và có một thời, mỗi khi người ta nói Đồng Nai-Bến Nghé tức là nói đến cả vùng đất Nam Bộ.
- Tuy nhiên, hiện nay trên bản đồ vẫn ghi khúc sông này là sông Sài Gòn. Còn cái tên Bến Nghé hiện chỉ còn dùng để chỉ một con rạch: rạch Bến nghé chảy từ sông Sài Gòn (cầu Khánh Hội) đến cầu Chữ Y. Con rạch này nhận nước của sông Sài Gòn và là ranh giới tự nhiên giữa quận 1 và quận 4.

7. Sông Đạ Huoai: Sông Đạ Huoai phát nguyên từ suối Đạ Mri, chảy xuống qua Suối Tiên. Khi vào địa phận Đạ Huoai, lòng sông rộng dần ra trung bình 15 m, rồi đổ vào sông Đồng Nai. Phụ lưu chính là sông Đạ Mrê có chiều dài 50 km, rộng từ 10 m đến 12 m.
8. Sông Vàm Cỏ: Sông Vàm Cỏ thuộc hệ thống sông Đồng Nai. Sông này có khoảng 10 chi lưu trong đó hai chi lưu trực tiếp tạo nên dòng sông là sông Vàm Cỏ Đông và sông Vàm Cỏ Tây. Sông Vàm Cỏ đổ nước vào sông Soài Rạp, cách cửa Soài Rạp khoảng 22 km. Tính từ chỗ ngã ba Vàm Cỏ Đông-Vàm Cỏ Tây (Tân Trụ) đến ngã ba sông Soài Rạp, Vàm Cỏ dài 35,5 km. Sông Vàm Cỏ chảy qua tỉnh Long An và làm ranh giới giữa Long An và Tiền Giang.

9. Vàm Cỏ Đông:
- Sông Vàm Cỏ Đông là một chi lưu của sông Vàm Cỏ.Sông bắt nguồn tư vùng đồi núi bên lãnh thổ Campuchia chảy vào Việt Nam tại xã Biên Giới, huyện Châu Thành, Tây Ninh, rồi qua các huyện Bến Cầu, Hòa Thành, Gò Dầu, Trảng Bàng (đều thuộc Tây Ninh).Và đi vào địa phận tỉnh Long An qua các huyện Đức Hòa,Đức Huệ,Bến Lức,Cần Đước và kết hợp với sông Vàm Cỏ Tây tạo nên sông Vàm Cỏ Sông có chiều dài 220 km trong đó phần trên lãnh thổ Việt Nam dài hơn 150 km. Lưu vực sông rộng 8.500 km².
- Sông Vàm Cỏ Đông có một số chi lưu trong đó có sông Nhật Tảo.Vì có nhiều nhánh sông nhỏ nên Vàm Cỏ Đông nó rất thuận tiện cho việc lưu thông bằng đường thủy để vận chuyển hàng hóa từ các nơi về Tây Ninh hay ngược lại từ Tây Ninh đến những nơi khác (chủ yếu là các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long).
- Đây là nơi xảy ra nhiều trận đánh ác liệt trong các cuộc chiến tranh. Trong cuộc chiến chống Pháp, nghĩa quân Nguyễn Trung Trực đã chỉ huy trận đánh đốt tàu Hy Vọng của thực dân Pháp tại vàm Nhựt Tảo. Trong chiến tranh Việt Nam, đây cũng là nơi diễn ra nhiều trận đánh ác liệt.
- Sông này nổi tiếng với bài hát cùng tên là bài "Vàm Cỏ Đông" (sáng tác: Trương Quang Lục, thơ: Hoài Vũ), "Lên ngàn" (sáng tác: Hoàng Việt).

10. Vàm Cỏ Tây:
- Sông Vàm Cỏ Tây là tên một con sông chảy qua tỉnh Long An và Tiền Giang. Sông này lấy nước từ sông Tiền và vùng Đồng Tháp Mười[1] rồi hợp lưu với sông Vàm Cỏ Đông tạo thành sông Vàm Cỏ. Thành phố Tân An của tỉnh Long An nằm bên hữu ngạn con sông này.
- Sông Vàm Cỏ Tây bắt nguồn từ biên giới tỉnh Svay Rieng Campuchia chảy vào huyện Vĩnh Hưng, Tân Thạnh, Tân Hưng, Thạnh Hóa, Thủ Thừa, Tân Trụ, Cần Đước, Châu Thành và Thành phố Tân An. Sông cùng với sông Vàm Cỏ Đông hợp thành sông Vàm Cỏ đổ ra cửa Xoài Rạp.
- Sông Vàm cỏ Tây và Đông nước có màu xanh khi thủy triều lên và vàng đục khi thủy triều xuống. Đây là nét đặc trưng riêng của sông Vàm cỏ khác với các sông khác ở Đồng bằng Sông Cửu Long.
- Sông Vàm Cỏ Tây độ dài qua tỉnh là 186 km, nguồn nước chủ yếu do sông Tiền tiếp sang qua kênh Hồng Ngự, đáp ứng một phần nhu cầu nước tưới cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt cho dân cư.

11. Sông Cần Giuộc:
- Sông Cần Giuộc (hay sông Rạch Cát, sông Phước Lộc) là một dòng sông nhỏ, chảy qua địa phận Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Long An. Đoạn chảy qua Thành phố Hồ Chí Minh chỉ dài khoảng 500 m ở ngã ba sông Chợ Đệm - Rạch Cát, còn lại chảy trên địa phận tỉnh Long An, tiếp giáp nhiều kênh rạch của lưu vực sông Vàm Cỏ và huyện Bình Chánh, chảy qua địa phận xã Tân Kim, huyện Cần Giuộc, qua thị trấn Cần Giuộc tới địa phận xã Phước Đông, huyện Cần Đước đến cách sông Vàm cỏ khoảng 12.5 km thì dòng sông này tách thành 2 con sông. Một hướng rẽ ra sông Xoài Rạp, một hướng xuống Vàm Cỏ. Ngoài ra, nhánh chính của dòng sông này còn có chiếc cầu Rạch Cát bắc qua.
- Xuôi dòng sông này, nếu đi theo phía Tây có thể ra sông Xoài Rạp, phía Nam ra sông Vàm Cỏ, phía Bắc ra sông Chợ Đệm, ra Kinh Đôi và từ đó ra sông Sài Gòn. Tính từ lưu vực sông Vàm Cỏ đến sông Chợ Đệm, tổng chiều dài dòng sông này khoảng 38 km.
- Dòng sông này có trận đánh lịch sử giữa quân Pháp - Việt năm 1858, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc cũng là một tác phẩm liên quan đến dòng sông này do Nguyễn Đình Chiểu sáng tác.

12. Sông Lòng Tàu (sông Ngã Bảy): Sông Lòng Tàu là một phân lưu của sông Đồng Nai,dài khoảng 75 km, có độ sâu trung bình là 15 m, đổ ra biển Đông tại vịnh Gành Rái. Đến lượt nó. Lòng Tàu lại có hai phân lưu là sông Ngã Ba và sông Ngã Bảy. Tính từ ngã ba nơi sông Lòng Tàu tách ra khỏi sông Đồng Nai đến chỗ sông Ngã Bảy tách ra, Sông Lòng Tàu chảy qua huyện Cần Giờ. Đây là một tuyến giao thông đường thủy quan trọng ở Đông Nam Bộ, nơi các tàu biển từ biển Đông đi qua cửa sông Ngã Bảy vào cập cụm cảng Sài Gòn.

13. Sông Ngã Bảy:
- Sông Ngã Bảy tại huyện Cần Giờ, TP.Hồ Chí Minh.Sông được bắt nguồn từ đoạn hợp lưu sông Lòng Tàu và sông Dừa từ hướng đông bắc đổ tới. Tại đây sông chảy thêm một đoạn khoảng 2km nữa thì tiếp tục nhận nước từ sông Đồng Tranh từ hướng bắc đổ vào. Chảy thêm khoảng 4km nữa thì sông đổi hướng nam đổ ra biển Đông tại vịnh Rành Gái.
- Trên đường chảy ra biển Đông, ngoài các sông lớn như sông Lòng Tàu, sông Đồng Tranh, sông Dừa, sông còn nhận thêm nước từ các con sông nhỏ khác từ hai bên đổ vào nên có tên gọi là sông Ngã Bảy (tức có 7 nhánh sông đổ vào).
- Sông có chiều dài khoảng 15km, lòng sông rộng. Nơi đây cũng là vị trí của trận thuỷ chiến nổi tiếng năm 1782 giữa Tây Sơn và Chúa Nguyễn, trận Thất Kỳ Giang.

14. Sông Đồng Tranh:
- Sông Đồng Tranh là một phân lưu của sông Đồng Nai làm ranh giới tự nhiên giữa TP.HCM và Đồng Nai.Sông được chảy tách ra từ sông Lòng Tàu tại địa phận xã Phước Khánh, huyện Nhơn Trạch chảy theo hướng đông - đông nam, đến đoạn giao với sông Bà Giỏi tại xã Phước An, Nhơn trạch đổi hướng chảy theo hướng nam và nhập vào với sông Ngã Bảy tại xã Thạch An, Cần Giờ.
- Sông có chiều dài khoảng 30km, từ đoạn sông Lòng Tàu và sông Bà Giỏi làm ranh giới tự nhiên giữa hai huyện Nhơn Trạch, Đồng Nai và Cần Giờ, TP.HCM.

15. Sông Thị Vải:
- Sông Thị Vải là con sông chảy qua và làm ranh giới tự nhiên giữa Đồng Nai và Bà Rịa Vũng Tàu.
- Sông được bắt nguồn từ huyện Long Thành, chảy theo hướng đông - nam, qua Nhơn Trạch, đến huyện Tân Thành đổi hướng theo hướng nam đổ ra biển tại vịnh Gành Rái.
- Sông có tổng chiều dài khoảng 76km, đoạn chảy theo hướng nam làm ranh giới tự nhiên giữa hai huyện Nhơn Trạch, TP.HCM và Tân Thành, Bà Rịa Vũng Tàu.

16. Sông Soài Rạp:
- Sông Soài Rạp hay Xoài Rạp là một phân lưu của hệ thống sông Sài Gòn - sông Đồng Nai
- Sông được bắt đầu từ đoạn xã Phú Xuân, Nhà Bè và xã Bình Khánh, Cần Giờ theo hướng nam đổ ra biển Đông tại cửa Soài Rạp, và làm ranh giới tự nhiên giữa huyện Cần Giờ và Nhà Bè, giữa Cần Giờ và huyện Cần Giuộc (Long An), giữa Cần Giờ và huyện Gò Công Đông (Tiền Giang).
- Sông có chiều dài khoảng 40km, khúc rộng nhất của sông khoảng 3km nằm phía hạ lưu nơi ranh giới giữa xã Lý Nhơn, Cần Giờ và xã Gia Thuận, Gò Công Đông.
- Hiện nay, sông Soài Rạp đang được tiến hành nạo vét độ sâu của lòng sông vì tương lai sẽ có 1 hệ thống cảng biển lớn và hiện đại của quốc gia năm trên luồng sông này đó là cảng Hiệp Phước nhằm thay thế cho hệ thống cảng Sài Gòn cũ
- Các sông và kênh khác:
+ Kênh Choán: Nối từ Hoằng Hà đến Kênh Bà Tống.
+ Kênh Bà Tống: Nối từ kênh Tắt Ông Nghĩa đến sông Soài Rạp.
+ Sông Dần Xây:Nối từ sông Lòng Tàu đến sông Dinh Bà.
+ Sông Dinh Bà :Nối từ sông Dần Xây đến sông Lò Rèn.
+ Sông Lò Rèn: Nối từ sông Dinh Bà đến sông Vàm Sát.
+ Sông Vàm Sát: Nối từ sông Lò Rèn đến sông Soài Rạp.

IX. HỆ THỐNG SÔNG MÊ KÔNG (Cửu Long):
- Sông Mekong là một trong mười con sông lớn nhất thế giới, có chiều dài hơn 4.800 km, bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng. Diện tích lưu vực 795.000 km2 rộng gần bằng nước Pháp và Đức cộng lại.Sông MêKông chảy qua lãnh thổ của 6 quốc gia là Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam. Đây là nơi sinh sống của trên 65 triệu người và có nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng, rất thuận lợi cho phát triển kinh tế của các nước ven sông.
- Tính theo độ dài, sông Mêkông đứng thứ 12 thế giới và thứ 7 châu Á, còn tính theo lưu lượng nước đứng thứ 10 trên thế giới. Sông này xuất phát từ vùng núi cao tỉnh Thanh Hải, băng qua Tây Tạng theo suốt chiều dài tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), qua các nước Myanma, Thái Lan, Lào, Campuchia trước khi vào Việt Nam. Các quốc gia kể trên (trừ Trung Quốc) nằm trong Ủy ban sông Mê Kông. Đặc điểm thủy năng nổi bật của sông Mê Kông là vai trò diều lượng dòng nước bởi hồ Tonlé Sap - hồ thiên nhiên lớn nhất Đông Nam Á - người Việt thường gọi là "Biển Hồ".
- Thượng nguồn Sông Mê Kông gồm hai nhánh: nhánh tây bắc và nhánh bắc, nhánh tây bắc được biết đến nhiều hơn, vị thế gần đèo Lungmug với chiều dài 87,75 km. Nhánh bắc chảy xuống từ rặng núi Guosongmucha. Nhánh này, từ độ cao 5.224 m, gồm hai nhánh phụ có chiều dài 91,12 km và 89,76 km. Đầu nguồn của dòng sông đến nay đã được xác định rõ qua những cuộc thám hiểm gần đây. Năm 1994, một phái đoàn Trung Quốc và Nhật Bản đã đến nguồn phía Bắc đồng lúc phái đoàn Pháp, do M. Peissel dẫn đầu, đến nguồn mạch phía tây với cùng một mục đích: chứng minh nguồn mạch chính của sông Mê Kông. Sau đó, những cuộc thám hiểm kế tiếp cho đến năm 1999 dưới sự hợp tác các nước Trung Hoa, Mỹ và Nhật Bản đã chính thức xác minh nguồn mạch sông Cửu Long thuộc nhánh bắc. Các con số về độ dài của sông dao động trong khoảng 4.200 km đến 4.850 km.
- Gần một nửa chiều dài con sông này chảy trên lãnh thổ Trung Quốc, đoạn đầu nguồn được gọi là Trát Khúc, có nghĩa là "con sông cuộn sóng". Trát Khúc hợp lưu với một nhánh khác tên là Ngang Khúc tạo ra Lan Thương Giang. Phần lớn đoạn sông này có các hẻm núi sâu, và con sông này rời Trung Quốc khi độ cao chỉ còn khoảng 500 m so với mực nước biển.
- Sau đó, đoạn sông Mê Kông dài khoảng 200 km tạo thành biên giới giữa hai nước Myanma và Lào. Tại điểm cuối của biên giới, con sông này hợp lưu với sông nhánh Ruak tại Tam giác vàng. Điểm này cũng là điểm phân chia phần Thượng và phần Hạ của Mê Kông.
- Sông Mê Kông sau đó tạo thành biên giới của Lào và Thái Lan, trước khi dòng chảy chạy vào đất Lào. Nó được người Lào và người Thái gọi với tên Mènam Khong (Mènam nghĩa là "sông"). Sử Việt Nam thì gọi là Sông Khung. Ngoài ra một nhánh nhỏ thượng lưu sông Mê Kông bắt nguồn từ Điện Biên, đó là sông Pa Thơm do sông Nậm Rốn ở thung lũng Mường Thanh và sông Nậm Lúa nhập làm một, khi sang đất Lào nó gặp nhánh sông Mê Kông ở BanChum. Khoảng sông ở Lào đặc trưng bởi các hẻm núi sâu, các dòng chảy xiết và những vũng nước sâu khoảng nửa mét vào mùa khô. Nó mở rộng ra ở phía nam Luang Prabang, ở đó nó có thể rộng tới 4 km và sâu tới 100 mét, mặc dù dòng chảy của nó vẫn rất trái ngược nhau.
- Con sông này sau đó lại làm biên giới của Lào và Thái Lan trong đoạn chảy qua Viêng Chăn, sau đó lại là một đoạn ngắn chảy trên đất Lào. Ở đoạn này có chi lưu chính hữu ngạn từ Thái Lan đổ vào: Mènam Mun dài 750 km. Nó bao gồm cả khu vực Si Phan Đôn (bốn ngàn đảo) phía trên thác Khone gần biên giới Campuchia. Thác nước này dài 15 km, cao 18 m khá hùng vĩ và gần như không thể vượt qua đối với giao thông bằng đường thủy.
- Tại Campuchia, con sông này có tên là sông Mékôngk hay Tông-lê Thơm (sông lớn). Vùng nước chảy xiết Sambor phía trên Kratie là cản trở giao thông cuối cùng. Ở phía trên Phnom Penh nó hợp lưu với Tông-lê Sáp, con sông nhánh chính của nó ở Campuchia. Vào mùa lũ, nước chảy ngược từ sông Mê Kông vào Tông-lê Sáp.
- Bắt đầu từ Phnôm Pênh, nó chia thành 2 nhánh: bên phải là sông Ba Thắc (sang Việt Nam gọi là Hậu Giang hay sông Hậu) và bên trái là Mê Kông (sang Việt Nam gọi là Tiền Giang hay sông Tiền), cả hai đều chảy vào khu vực đồng bằng châu thổ rộng lớn ở Nam Bộ Việt Nam, dài chừng 220-250 km mỗi sông. Tại Việt Nam, sông Mê Kông còn có tên gọi là sông Lớn, sông Cái, hay sông Cửu Long.
- Người châu Âu đầu tiên thám hiểm sông Mê Kông là người Bồ Đào Nha có tên là Antonio de Faria vào năm 1540; bản đồ của người châu Âu năm 1563 có vẽ lại con sông này, mặc dù chỉ có một đoạn nhỏ ở khu vực đồng bằng châu thổ.
- Vào lãnh thổ việt nam sông tiền giang và sông hậu giang chia thành 6 nhánh phụ đổ ra biển đông qua 9 cửa biển lần lượt từ bắc xuống nam: cửa tiểu, của đại, cửa ba lạt, cửa hàm luông, cửa cổ chiên, cửa cung hẫu, cửa định an, cửa bassac và cửa trần đề. Vì vậy sông mê kong trên đất việt nam mang tên cửu long.

1. Sông Tiền: Sông Tiền hay Tiền Giang là tên của đoạn chảy trên lãnh thổ Việt Nam của dòng chính của sông Mê Kông. Đoạn đầu nguồn của sông Tiền Giang trên đất Campuchia kể từ Phnom Penh được gọi là Tonlé Bassac Thượng. Sông tiền giang chảy qua Tân Châu, Chợ Mới thuộc tỉnh An Giang; Cao Lãnh, Sa Đéc thuộc tỉnh Đồng Tháp, tỉnh Vĩnh Long, TP Mỹ Tho,tỉnh Tiền Giang,đổ ra biển qua 6 cửa.Từ vĩnh long về hạ lưu, Sông Tiền có bốn phân lưu và đổ ra biển Đông qua sáu cửa sông, tính từ phía bắc xuống là:
- Sông Mỹ Tho, chảy qua Mỹ Tho và phía Nam Gò Công, ra biển bằng cửa Tiểu và cửa Đại.
- Sông Ba Lai chảy qua phía Bắc tỉnh Bến Tre , đổ ra cửa Ba Lai.
- Sông Hàm Luông, chảy qua phía Nam tỉnh Bến Tre đổ ra cửa Hàm Luông.
- Sông Cổ Chiên, là ranh giới tỉnh Bến Tre và Trà Vinh, đổ ra biển bằng hai cửa Cổ Chiên và Cung Hầu.
- Sông Cửa Tiểu,là một phân lưu của sông Tiền tách ra từ Sông Mỹ Tho,có chiều dài khoảng 45 km, chảy theo hướng Tây-Đông bắt đầu từ cù lao Tấu (cách cầu Rạch Miễu khoảng 14 km về phía hạ lưu của sông Tiền(Sông Mỹ Tho), chảy qua các huyện Chợ Gạo, Gò Công Tây, Gò Công Đông của Tiền Giang và đổ vào biển Đông tại cửa Tiều, huyện Gò Công Đông.

2. Sông Hậu:
- Sông Hậu, hay Hậu Giang, đổ ra biển Đông qua cửa Tranh Đề và cửa Định An. Cửa Ba Thắc đã bị đất bồi từ khoảng thập niên 1970 nên không còn nữa.
- Trên lãnh thổ Việt Nam,sông hậu giang, chảy qua châu đốc, long xuyên thuộc tỉnh An Giang;qua TP Cần Thơ,tỉnh Hậu Giang,tỉnh Sóc Trăng, làm ranh giới tự nhiên giữa các tỉnh Đồng Tháp và Cần Thơ, Vĩnh Long và Cần Thơ, Hậu Giang và Vĩnh Long, Trà Vinh và Sóc Trăng. Đoạn rộng nhất của con sông nay là giữa huyện Cầu Kè (Trà Vinh) và huyện Long Phú (Sóc Trăng) khoảng gần 4 km.Và đổ ra biển bằng 2 cửa chính là cửa Định An và cửa Trần Đề.
- Sông tiền giang và hậu giang được nối với nhau bằng hệ thống sông tự nhiên và kenh đào như: kênh tân châu, châu đốc, sông vàm nao, kenh lấp vò- sa đéc, kênh chợ lách, sông măng thít và rạch trà ôn.
- Hai hệ thống sông cửu long và đồng nai được nối với nhau bằng kênh chợ gạo.

3. Sông tại Serepôk (sông Đăk Krông):
- Serepôk (hay Srêpôk), tên gọi trong tiếng Campuchia là Tongle Xrepok, là dòng sông lớn nhất ở Đắk Lắk. Đây là một phụ lưu quan trọng của sông Mekong. Đoạn chảy trên địa phận Đăk Lăk được gọi là sông Đăk Krông. Tính từ chỗ hợp lưu của sông Krông Ana và sông Krông Nô tới chỗ hợp lưu với Sông Mê Kông dài 406 km, trong đó đoạn chảy trong lãnh thổ Việt Nam dài khoảng 126 km, đoạn chảy qua Campuchia dài khoảng 281 km.
- Sông được hình thành hoàn toàn trên địa phận Đăk Lăk và được hợp thành từ hai dòng sông nhỏ là sông Krông Ana và sông Krông Nô (sông Mẹ và sông Bố). Sông chảy qua các huyện Krông Ana, Buôn Đôn và Ea Súp của Đăk Lăk. Vừa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, Serepôk được bổ sung thêm nguồn chảy dồi dào từ dòng sông Ea H'leo. Sông Serepôk nhập vào sông Mekong sát Stung Treng, tỉnh Stung Treng. Trước khi nhập vào, nó còn nhận nước từ sông Sesan và sông Sekong (hai sông này cũng có nguồn trên lãnh thổ Việt Nam).
- Sông Serepôk có nhiều thác ghềnh hùng vĩ còn tương đối hoang sơ như: thác Trinh Nữ, thác Đray Sáp, thác Đray Nu, thác Đray H'linh, thác Gia Long, thác Bảy Nhánh... là những điểm du lịch hấp dẫn khách du lịch.
- Dòng sông này có lưu lượng nước rất lớn, hệ sinh thái của sông cũng rất phong phú và đa dạng, tạo nên một nguồn lợi to lớn về thủy sản và thủy điện. Ở đây có các loài cá đặc sản như cá lăng và đặc biệt là cá mõm trâu, (loài cá nhiều người vẫn đinh ninh là cá anh vũ tiến vua).Serepôk là nguồn nước mặt quan trọng của Đắk Lắk.
- Cuối thế kỷ 19, khi đường bộ còn chưa phát triển, sông Serepôk là một trong những đường giao thương quan trọng trong vùng. Người Lào và Cao Miên thường đi thuyền ngược dòng sông để đến buôn bán, trao đổi hàng hóa với vùng cao nguyên Đắk Lắk của Việt Nam. Bản Đôn ngay từ ngày ấy đã trở thành một thương cảng sầm uất; nơi đây lúc ấy có thể ví như Hội An của Đà Nẵng hay Phố Hiến - Hưng Yên.Người Lào khi đến buôn bán đã định cư ở đây rất đông, góp phần xây dựng lên một Bản Đôn nổi tiếng với những bản sắc văn hóa đặc trưng như ngày nay.

4. Sông Sê San:
- Sông Sê San là chi lưu lớn của sông Mekong bắt nguồn từ Bắc và Trung Tây Nguyên rồi chảy sang lãnh thổ Campuchia và nhập vào sông Serepok gần Stung Treng.
- Sông Sê San có lưu vực rộng 17.000 km². Trên lãnh thổ Việt Nam, sông Sê San nằm trên hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum với tổng chiều dài sông chính là 237 km, diện tích lưu vực là 11.450 km². Sông Sê San có hai chi lưu là krong Pô Kô ở phía hữu ngạn và dak Bla phía tả ngạn. Trên lãnh thổ Campuchia, sông chảy qua tỉnh Ratanakiri và Stung Treng.
- Phần phía thượng lưu của sông nằm trong vùng đồi núi thấp, độ dốc địa hình trung bình. Trên phía Đông-Bắc của phần thượng lưu, sông tiếp giáp với vùng phân thuỷ giữa Đông và Tây của dải Trường sơn. Phần phía hạ lưu, thung lũng sông nằm trong các hẻm sâu của các dãy núi cao, độ dốc địa hình khá lớn.

5. Sông Pô Kô: Sông Pô Kô ở phía tây tỉnh Kon Tum,nó là một phụ lưu của sông Sê San.Sông Pô Kô bắt nguồn từ vùng núi ở huyện Đắk Glei, chảy qua huyện Ngọc Hồi,huyện Đắk Tô và làm thành ranh giới tự nhiên giữa Đắk Tô với Đắk Hà, giữa Sa Thầy với Đắk Hà, giữa Sa Thầy với thành phố Kon Tum rồi hợp với sông dak Bla tạo thành sông Sê San.
Trên địa phận huyện Đắk Glei, sông còn có tên Đak Pô Kô, và đoạn gần chỗ hợp lưu với dak Bla, sông còn có tên krong Pô Kô.Trên sông Pô Kô có công trình thủy điện Plei Krông.

6. Sông Đắk Bla:
- Sông Đắk Bla nổi tiếng khắp Tây Nguyên vì chảy ngược lên hướng Tây.Nếu như nhiều dòng sông khác ở Việt Nam bắt nguồn từ Trường Sơn chảy về biển Đông thì sông Đắk Bla lại theo hướng Tây Trường Sơn, lẻ loi một mình, trượt dài 100km, từ địa phận huyện Kon Plong ở phía Tây tỉnh Kon Tum về thị xã, rồi lượn lờ sang hướng Tây - Tây Nam hợp với con sông Kroong Pô Kô từ hướng bắc đổ xuống thành con sông lớn Sê Sang hùng vĩ.
- Trước đây người dân Kon Tum quen gọi là Đắk Bla - Ya Ly và sau này gọi là sông Sê San. Đắk Bla chảy sang Campuchia rồi hòa cùng dòng Mê Kông . Đắk Bla gắn liền với nhiều huyền thoại của đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống dọc triền sông. Đắk Bla còn là dòng sông có loài cá quý, bao đời dùng để "tiến vua", mang tên Anh Vũ...

7. Sông Hàm Luông: là một phân lưu của sông Tiền chảy qua tỉnh Bến Tre.Sông bắt đầu từ địa phận xã Tân Phú-Châu Thành, chảy qua địa phận các huyện như Châu Thành, Chợ Lách, Mỏ Cày, thị xã Bến Tre, Giồng Trôm, Thạnh Phú, Ba Tri đổ ra biển Đông tại cửa Hàm Luông.Sông có chiều dài khoảng 70 km, giữa sông có các cù lao lớn như cù lao Đất, cù lao Linh, cù lao Ốc

8. Sông Cổ Chiên:
- Sông Cổ Chiên là một phân lưu của sông Tiền , chảy qua các tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre.
- Sông bắt đầu từ thành phố Vĩnh Long ,đổ ra biển Đông qua 2 cửa sông là cửa Cung Hầu và cửa Cổ Chiên. Cửa Cổ ở phía tỉnh Bến Tre và cửa Cung Hầu ở phía Trà Vinh.Con sông này có chiều dài khoảng 82 km, là ranh giới tự nhiên giữa các tỉnh Vĩnh Long với Bến Tre, Trà Vinh với Bến Tre.

9. Sông Vàm Nao:
- Sông Vàm Nao, hay Vàm Lao, Vàm Giao hay Vàm Giao Giang và tên Khmer là pãm pênk Nàv, là dòng sông tại tỉnh An Giang,dài 6,5 km, rộng bình quân 700m, độ sâu trên 17m, một bờ thuộc xã Kiến An (huyện Chợ Mới), một bờ thuộc xã Tân Trung (huyện Phú Tân), nối sông Tiền với sông Hậu. Vàm Nao có vai trò quan trọng đối với đồng bằng sông Cửu Long về thủy lợi và giao thông vận tải. Vàm Nao còn nổi tiếng vì là nơi xảy ra trận thủy chiến khốc liệt giữa quân Việt và quân Xiêm vào cuối năm 1833, và còn vì các đặc sản như cá hô, cá bông lau...
- Tên Vàm Nao, với nghĩa "nao núng, nao lòng",xưa kia hàng năm vào khoảng tháng 7 cho đến tháng 10 âm lịch (mùa nước nổi), nước sông đỏ ngầu từ thượng nguồn, theo hai nhánh sông Tiền, sông Hậu cùng cuồn cuộn đổ về, rồi giao nhau nên xoáy tròn như thác lũ... Do đó, người chưa quen cách chèo lái khi qua khúc sông này, thường sợ hãi vì rất dễ đắm thuyển.Về sau triều đình Huế cho Hán hóa tên Vàm Nao và muốn cho nó nên thơ và đừng nao nữa, nên ban cho nó cái tên Thuận Giang hay Thuận Cảng.
- Trận thủy chiến Vàm Nao 1833:
+ Vào năm Quý Tỵ (1833), theo lời cầu viện của Lê Văn Khôi, vua Xiêm sai tướng Chiêm Phi Nhã Chất Tri và Chiêu Phi Nhã Phật Lăng đem 20 vạn quân cùng với 350 chiến thuyền, chia làm 5 đạo, bằng nhiều hướng đánh vào một số tỉnh ở miền Trung, Châu Đốc và Hà Tiên.Quân Xiêm theo đường kênh Vĩnh Tế chiếm Châu Đốc. Quân Việt đành phải rút về Đông Khẩu (Sa Đéc) để bảo toàn lực lượng. Trước tình hình nguy ngập này, Tướng Giảng và tướng Nguyễn Xuân tức tốc chiếm giữ Vàm Nao và cho người cấp báo về Huế xin viện binh.
- Ở Châu Đốc, sau khi chuẩn bị xong, thủy quân Xiêm tiến xuống sông Vàm Nao.Chiều ngày mùng 4 tháng Chạp năm 1833, lợi dụng rừng rậm um tùm hai bên bờ sông, quân ta chiếm đóng và sẳn sàng ứng chiến. Đúng canh tư, quân ta bất ngờ đánh úp quân giặc. Với sự giúp sức của các tướng sĩ ở Vĩnh Long, Định Tường và Gia Định, chẳng bao lâu, thì đẩy lùi được quân Xiêm. Mười lăm chiến thuyền giặc bị nhấn chìm, ta thu được nhiều súng ống và đạn dược..

10. Sông Châu Đốc:
- Sông Châu Đốc là một con sông nhỏ thuộc tỉnh An Giang. Sông được bắt nguồn từ sông TaKeo, Campuchia, chảy vào An Giang tại xã Đa Phước, huyện An Phú. Từ đây sông chảy theo hướng đông-nam đến và giao nhau với sông Hậu tại ngã ba sông Châu Đốc-sông Hậu ở trung tâm thị xã Châu Đốc, đây cũng là nơi bắt nguồn của kênh Vĩnh Tế theo hướng tây nam đổ ra vịnh Thái Lan.Sông có chiều dài khoảng 15km, là đường thủy thuận lợi giữa tỉnh An Giang và tỉnh Takeo, Campuchia.

- Sông Tiền Giang và Hậu Giang được nối với nhau bằng hệ thống sông tự nhiên và kenh, đào như: kênh tân châu, châu đốc, sông vàm nao, kenh lấp vò - sa đéc, kênh chợ lách, sông măng thít và rạch trà ôn. Hai hệ thống sông cửu long và đồng nai được nối với nhau bằng kênh chợ gạo.
(Còn nữa)
Vietnam Future​
Viết và chia sẻ bình luận: Like để cập nhật các bài viết qua facebook. Cảm ơn bạn đã ghé thăm, ủng hộ!

About Tứ Đoàn Ngọc

Đoàn Ngọc Tứ chào mừng bạn tới với website và cảm ơn bạn đã ủng hộ trang này.