Một số kết quả nghiên cứu, ứng dụng công nghệ cống lắp ghép bằng cừ BTCT dự ứng lực trong xây dựng công trình thủy lợi ở ĐBCSL

Like và chia sẻ bài viết
vawr.org.vn- Những năm gần đây nhiều công trình nghiên cứu cải tiến kết cấu cống truyền thống đã được triển khai và ứng dụng ở nhiều địa phương các tỉnh ĐBSCL như: kết cấu cống kiểu trụ đỡ, cống đập xà lan, kết cấu cống lắp ghép bằng BTCT và BTCT dự ứng lực...
Ưu điểm nổi bật các công nghệ mới là: Kết cấu bền vững, kết hợp giao thông thủy bộ thuận lợi, thi công nhanh (không đắp đê quây và dẫn dòng thi công), hạn chế giải tỏa mặt bằng xây dựng, chi phí đầu tư thấp... phù hợp với khả năng kinh phí của địa phương. Bài viết này giới thiệu một cách tổng quát về kết quả nghiên cứu ứng dụng công nghệ cống lắp ghép phục vụ xây dựng thủy lợi ở đồng bằng sông Cửu Long trong gần 10 năm qua để bạn đọc tham khảo
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Công trình cống thường được xây dựng ở ĐBSCL hiện nay là các loại cống BTCT kiểu toàn khối truyền thống có ưu điểm: công nghệ thiết kế đã hoàn thiện, kỹ thuật thi công trong điều kiện làm khô hố móng nên thuận tiện trong việc kiểm soát chất lượng và xử lý các vấn đề kỹ thuật trong thi công xây dựng, phạm vi ứng dụng rộng rãi ở nhiều vùng có điều kiện tự nhiên phức tạp. Tuy nhiên, khi áp dụng công nghệ cống kiểu truyền thống vẫn còn một số vấn đề tồn tại sau: kết cấu công trình bằng BTCT sử dụng nhiều vật tư (ximăng, sắt thép,…), khối lượng đào đắp nhiều, diện tích chiếm đất mặt bằng xây dựng lớn gây khó khăn cho công tác đền bù giải tỏa, thời gian thi công kéo dài, bị phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, việc đắp đê quây và dẫn dòng qua lòng sông thu hẹp có tiết diện tiêu thoát bé gây ảnh hưởng đến tình trạng ngập lụt và môi trường trong thời gian thi công, giá thành đầu tư cao.
Để khắc phục các hạn chế trên của kết cấu cống truyền thống, trong những năm qua ở ĐBSCL đã có một số kết cấu cống mới được nghiên cứu và ứng dụng như cống kiểu đập trụ đỡ, cống kiểu đập xà lan di động (GS.TS Trương Đình Dụ và nnk - Viện Thủy công) ; cống lắp ghép bằng cừ BTCT dự ứng lực (ThS. Phan Thanh Hùng và nnk - Viện KHTL miền Nam),… đang trong giai đoạn ứng dụng thử nghiệm và hoàn thiện công nghệ. Các kiểu cống mới đã bước đầu phát huy hiệu quả ở những phạm vi và điều kiện ứng dụng phù hợp nhất định với ưu điểm là công nghệ thi công lắp ghép tại hiện trường trên sông tự nhiên, thi công nhanh, hạn chế chiếm đất và giải phóng mặt bằng xây dựng, giá thành đầu tư thấp hơn cống truyền thống nên đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển nông nghiệp và nông thôn ở các địa phương vùng ĐBSCL. Qua thời gian vận hành khai thác, các cơ quan quản lý Nhà nước và nhiều địa phương đã có đánh giá cao giá trị khoa học và kinh tế - xã hội rõ ràng của kết cấu cống công nghệ mới và cống cải tiến.
Trong bài báo này tác giả tập trung giới thiệu kết quả nghiên cứu ứng dụng công nghệ “cống lắp ghép” là giải pháp công nghệ mới do Viện KHTL miền Nam chủ trì đã được ứng dụng thành công ở một số địa phương ĐBSCL.
II. KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU “KẾT CẤU CỐNG LẮP GHÉP” Ở ĐBSCL:
Giải pháp công nghệ mới “Cống lắp ghép” là kết quả nghiên cứu của Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam chủ trì thực hiện từ năm 2003. Công nghệ này được đề xuất và nghiên cứu nhằm khắc phục các tồn tại của công trình ngăn sông kiểu truyền thống. Cống lắp ghép làm việc theo nguyên lý mới và đổi mới về công nghệ thi công nhằm tăng hiệu quả đầu tư xây dựng công trình.
Năm 2003 kết cấu cống lắp ghép bằng cừ BTCT dự ứng lực do nhóm nghiên cứu của Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam lần đầu tiên ứng dụng thành công với công trình ngăn mặn Ninh Quới, đã nhanh chóng nhận được sự quan tâm của các nhà chuyên môn và các địa phương ở ĐBSCL.
Ý tưởng “liên kết các cây cừ bản để tạo thành đập ngăn sông có điều tiết” đã được nhóm nghiên cứu hiện thực hóa bằng một công trình cống có kết cấu đặc biệt. Thân cống là một hàng cừ bản BTCT dự ứng lực (có hành dạng chữ C) được liên kết với nhau đóng xuống nền kênh làm bức tường ngăn nước. Để có thể lắp đặt được cửa van, dầm van được bố trí chụp lên các đầu các cây cừ giữa lòng kênh (được đóng sâu hơn so với các cây cừ khác). Toàn bộ công trình được giữ ổn định nhờ hệ cọc cừ làm trụ pin cống.
Hình 1: Kết cấu cống lắp ghép
1- Trụ pin; 3- Dầm van; 5- Cửa van; 7- Rọ đá; 9- Cầu giao thông; 2- Thân cống; 4- Cừ chống thấm; 6- Thiết bị đóng mở; 8- Dầm liên kết
Bằng giải pháp thi công lắp ghép các cấu kiện đúc sẵn ngay trên lòng sông tự nhiên, không phải đắp đê quây và dẫn dòng thi công đã giải quyết được bài toán nan giải về giải phóng mặt bằng khi xây dựng cống theo kiểu truyền thống thường gặp, đồng thời với giải pháp cống lắp ghép kinh phí đầu tư xây dựng chỉ thấp bằng 40¸60% so với cống truyền thống, rút ngắn thời gian thi công. Đây chính là tính ưu việt của giải pháp công lắp ghép.
Tiếp theo thành công từ công trình ngăn mặn Ninh Qưới, 05 công trình cống lắp ghép bằng cừ BTCT dự ứng lực được Bộ NN&PTNT cho phép ứng dụng ở “Tiểu dự án Ô Môn-Xà No” là một trong những minh chứng cho sự cần thiết phải thay đổi tư duy trong ngành thủy lợi về vấn đề hạn chế giải phóng mặt bằng xây dựng để không làm ảnh hưởng đến sự an sinh của người dân.
Hình 2: Công trình cống Ông Dèo, Hậu Giang
Hình 3-Công trình cống Sáu Kim, Hậu Giang
Hình 4 - Kết cấu cống lắp ghép 5 nhịp
Hình 5: Công trình cống Ba Voi - Hậu Giang
Mỗi công trình nói trên là một giải pháp sáng tạo về kết cấu của nhóm tác giả. Cống Ba Voi được xây dựng trên sông rộng 60m (khẩu độ 15m), công trình được giữ ổn định bởi hai hàng cừ và các trụ pin BTCT dự ứng lực mà trên đó là cầu giao thông H13 với 5 nhịp. Cống Bà Đầm Đ, Ông Dèo và cống 4000Đ có khẩu độ 10 đến 15 m, 3 nhịp cầu giao thông. Đặc biệt, là cống Sáu Kim (khẩu độ 8m), cầu 1 nhịp, có kết cấu đẹp hiện đại.
Với những ưu thế về công nghệ - cống được thi công xây lắp trong điều kiện ngập nước, thiết bị thi công và vật liệu được tập kết trên xà lan sử dụng mặt kênh, sông làm công trường, nhờ đó đã giải quyết được bài toán về mặt bằng xây dựng; phần lớn các cấu kiện được đúc sẵn và đưa ra hiện trường lắp ghép nên thời gian thi công xây dựng công trình nhanh rút ngắn tiến độ thực hiện dự án; giải pháp mở rộng khẩu độ cống vừa tăng khả năng tiêu thoát vừa đáp ứng yêu cầu giao thông thủy đã tiết kiệm phần lớn chi phí cho việc xử lý tiêu năng phòng xói thượng hạ lưu công trình - nên kết cấu cống này thực sự là giải pháp tối ưu cho các nhà quản lý trong vấn đề giải tỏa đề bù mặt bằng xây dựng. Đặc biệt giá thành của các cống mới đó chỉ bằng 40¸60 kinh phí xây dựng cống truyền thống. Do đó, cống lắp ghép được coi là giải pháp công trình tối ưu đối với những nơi có sự dao động mực nước thấp, khu dân cư đông đúc, có yêu cầu cao về giao thông thủy.
Mặc dù vậy, thành công nói trên mới chỉ là bước đầu, việc thử nghiệm sản phẩm mới không thể tránh khỏi những nhược điểm, bộc lộ khi đi vào thi công, vận hành thực tế. Quá trình lắp ghép các cấu kiện trong điều kiện ngập nước là khó khăn, phức tạp đòi hỏi nhà thầu phải có kinh nghiệm, công nghệ, thiết bị và con người chuyên về thi công trong nước. Ở công trình cống Ninh Qưới, ban đầu việc chụp dầm van lên đầu các cây cừ ngập trong nước giữa lòng kênh gặp rất nhiều khó khăn, phải mất nhiều thời gian công sức để xử lý mới đạt được các chỉ tiêu thiết kế; với nền địa chất không đồng chất việc liên kết các cây cừ đảm bảo độ kín nước cũng mất nhiều công sức không kém...Ngoài ra, việc thi công xây dựng cống lắp ghép bằng cừ BTCT dự ứng lực đòi hỏi nhà thầu phải có thiết bị chuyên dụng để hạ cừ và liên kết chúng đảm bảo độ kín nước cao; kênh, sông phải đủ rộng và không bị cản trở bởi các công trình kiên cố bắc qua sông để các phương tiện thi công xoay xở, ra vào thuận tiện dễ dàng,... cũng là những trở ngại để ứng dụng rộng rãi kết cấu cống mới này vào thực tiễn sản xuất.
Trước thực trạng trên, nhiệm vụ mới được đặt ra cho ban chủ nhiệm đề tài là nghiên cứu cải tiến làm sao có thể dùng các phương tiện thi công đóng cọc phổ thông để thi công cống lắp ghép để tránh phụ thuộc vào các thiết bị chuyên dụng đắt tiền mà không phải nhà thầu nào cũng có khả năng mua sắm và cần thiết phải thiết kế cải tiến bộ phận liên kết giữa các cấu kiện (cừ chống thấm - dầm van - khe cửa - cửa van) để thuận tiện trong thi công lắp ghép ngoài hiện trường trong điều kiện ngập nước. Ở công trình cống Cầu Kênh (tỉnh Tiền Giang xây dựng năm 2009) chúng tôi đã thực hiện được điều này, làm tiền đề mở ra hướng nghiên cứu đa dạng hóa kết cấu cống lắp ghép nhằm phục vụ các mục tiêu, nhiệm vụ khác nhau ở các địa phương, cụ thể đã sử dụng búa đóng cọc và cải tiến kết cấu sàn đạo để đóng cừ và thiết kế cải tiến rãnh khe lắp cửa từ kiểu xiên góc thành kiểu thẳng đứng để thuận tiện lắp đặt và duy tu bảo dưỡng.
Kết cấu cống Cầu Kênh gồm 2 phần chủ yếu là: Phần thân cống được thiết kế với kiểu cống lắp ghép bằng 01 hàng cừ BTCT dự ứng lực kết hợp cầu giao thông bộ. Phần cửa van ngăn lũ điều tiết nước bằng thép không rỉ BxH = 10x4,5m.
+ Dầm đỡ cửa van: Dầm có mặt cắt ngang hình chữ I có thiết kế rãnh để thả cửa van nên rất thuận tiện trong lắp đặt và duy tu bảo dưỡng.
+ Khe bên cửa van: Khe bên bố trí thẳng đứng vừa có tác dụng giữ cửa ổn định và đảm bảo kín nước đồng thời là khe dẫn hướng để lắp đặt cửa van.
+ Biện pháp thi công đóng cừ:
Thiết kế sử dụng sàn đạo cải tiến nhiều tầng dẫn hướng để hạn chế sai số trong thi công đóng cừ.
Sử dụng búa đóng xung kích để đóng cừ thay cho búa rung và thiết bị xói nước, việc này đã giúp chủ động trong thi công và tiết kiệm chi phí xây dựng.
Hình 6:Bố trí kết cấu cống Cầu Kênh
Hình 7, 8: Mặt cắt dầm van cống Cầu Kênh, Thi công đóng cừ cống Cầu Kênh
Hình 9: Cống Cầu Kênh kết hợp giao thông nông thôn H8 hoàn thành tháng 4/2009
Nhu cầu xây dựng hệ thống công trình thủy lợi ở các địa phương phía Nam đang ở mức cao, trong khi ngân sách nhà nước cho thủy lợi ngày càng khó khăn, eo hẹp, cho nên sử dụng có hiệu quả nguồn kinh phí cho thủy lợi phục vụ công nghiệp hóa-hiện đại hóa nông thôn là rất cần thiết. Vì vậy, vấn đề mở rộng phạm vi ứng dụng của kết cống cống mới vào thay thế các cống truyền thống để giảm kinh phí xây dựng, rút ngắn thời gian thi công, hạn chế đến mức thấp nhất việc lấy đất canh tác của người dân làm mặt bằng xây dựng,… là một trong những giải pháp tăng hiệu quả sử dụng tài chính công của nhà nước. Không dừng ở những kết quả đạt được, nhóm tác giả tiếp tục nghiên cứu đưa ra những kết cấu công lắp ghép cải tiến có quy mô vừa và nhỏ để đáp ứng được nhu cầu đa dạng của sản xuất. Ngoài những công trình đã thi công xây dựng kể trên, năm 2009-2010, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam đã thiết kế hàng loạt công trình khác sử dụng kết cấu cống lắp ghép với mục tiêu phát huy tối đa những ưu điểm của kết cấu cống mới, sử dụng vật liệu và phương tiện thi công phổ thông để rút ngắn thời gian thi công, tăng hiệu quả đầu tư xây dựng công trình như:
+ Cống Kênh 12 (khẩu độ 5m), Cống Kênh 13 (khẩu độ 4m) trên đê bao ở vùng đệm U Minh Thượng được thiết kế theo đơn đặt hàng của chủ đầu tư và địa phương với quy mô nhỏ, lắp đặt cửa van phẳng đóng mở cưỡng bức bằng hệ thống vítme, kinh phí phù hợp với điều kiện địa phương,…đang được triển khai thi công.
+ 06 cống lắp ghép vận hành bằng cửa van tự động đóng mở hai chiều, đáp ứng được nhu cầu cấp và thoát nước linh hoạt theo con triều, được đưa vào dự án ĐTXD hệ thống công trình thủy lợi phục vụ NTTS vùng Vàm Răng - Ba Hòn, tỉnh Kiên Giang (đã duyệt thiết kế);
Ngoài ra, cống lắp ghép cũng đã đưa vào hàng loạt các dự án đầu tư xây dựng hệ thống thủy lợi ở các tỉnh phía Nam. Chẳng hạn như: dự án Bà Rài - Phú An (Tiền Giang) - 25 công trình; cống Xẻo Muối (Sóc Trăng), cống Long Mỹ 1 và cống Giồng Gấm (Hậu Giang). Điểm nổi bật ở các cống này là sử dụng cọc BTCT thông thường thay thế cho các cây cừ bản BTCT dự ứng lực, để giảm chi phí xây dựng và phù hợp với điều kiện địa chất, điều kiện thi công ở các công trình này.
Hình 10: Kết cấu cống Kênh 12, tỉnh Kiên Giang
Hình 11: Kết cấu cống lắp ghép B = 5m cửa van tự động đóng mở hai chiều, tỉnh Kiên Giang
1- Trụ pin; 3- Cừ chống thấm; 5- Cửa van; 2- Thân cống; 4- Cừ tường biên; 6- Cầu giao thông
Hình 12: Kết cấu cống lắp ghép kết hợp giao thông cơ giới dự án Bà Rài - Phú An, Tiền Giang
Hình 13: Kết cấu cống lắp ghép bằng cừ BTCT
III. HIỆU QUẢ VỀ KỸ THUẬT, KINH TẾ,  XÃ HỘI VÀ MÔI TRƯỜNG CỦA CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KẾT CẤU CỐNG LẮP GHÉP
- Giải pháp công nghệ “Cống lắp ghép bằng cừ BTCT dự ứng lực” là công nghệ mới đầu tiên được nghiên cứu và áp dụng ở Việt Nam. Kết cấu cống sử dụng vật liệu mới là cừ BTCT dự ứng lực phát huy được lợi thế độ bền và khả năng chịu lực của cừ (moment chống uốn cao, cường độ bêtông Rn=600÷725 kG/cm2) cho phép giảm 40÷60% vật liệu ximăng, sắt thép,… so với giải pháp kết cấu cống BTCT truyền thống nhưng vẫn đảm bảo an toàn và bền vững công trình.
- Biện pháp thi công cống giữa lòng sông (không đắp đê quây và kênh dẫn dòng thi công), hạn chế thấp nhất diện tích mất đất vĩnh viễn góp phần khắc phục các khó khăn về đền bù giải phóng mặt bằng, ổn định đời sống và sản xuất của nhân dân.
- Kỹ thuật thi công xây dựng cống theo phương pháp lắp ghép các cấu kiện công trình đã chế tạo sẵn trong điều kiện ngập nước làm cho tiến độ thi công xây dựng nhanh hơn 1,5÷2 lần so với công nghệ thi công truyền thống. Kết cấu cống mới có tiết diện thoát nước gần bằng tiết diện lòng sông nên không làm thay đổi lớn đến dòng chảy sông tự nhiên và xói lở sau công trình.
-  Kết cấu cống lắp ghép đơn giản do vậy giảm 40¸60% khối lượng vật tư sử dụng, giảm 70¸80% khối lượng đất đào đắp, rút ngắn 1,5÷2 lần thời gian thi công xây dựng so với giải pháp xây dựng cống truyền thống.
- Kinh phí đầu tư xây dựng cống lắp ghép bằng cừ BTCT và BTCT dự ứng lực thấp bằng 40¸60% so với kết cấu cống truyền thống, phù hợp với khả năng kinh tế của các địa phương hiện nay.
- Giải pháp công nghệ “Cống lắp ghép” thiết kế giảm thu hẹp dòng chảy sông tự nhiên, tăng khả năng thoát nước, hạn chế ảnh hưởng môi trường sinh thái về trước mắt và lâu dài.
- Công trình “Cống lắp ghép” kết hợp thuận tiện giao thông thủy và bộ, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương.
IV. GIẢI THƯỞNG KHCN:
Giải pháp công nghệ mới “Cống lắp ghép” là kết quả nghiên cứu của Viện khoa học thủy lợi miền Nam chủ trì thực hiện từ năm 2003 đã được:
+ Bộ nông nghiệp & PTNT trao tặng “Cúp vàng Nông nghiệp Việt Nam” tại Hội chợ triển lãm Nông - Lâm nghiệp và Thủy sản quốc tế Việt Nam năm 2005.
+ Giải Nhì hội thi Sáng tạo khoa học kỹ thuật Tp.Hồ Chí Minh năm 2005.
+ Bộ khoa học và công nghệ tặng Bằng khen và cấp “Chứng nhận kết quả nổi bật trong nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ giai đoạn 2001-2005”.
+ Công trình “Kết cấu cống lắp ghép bằng cừ BTCT dự ứng lực” được trao tặng giải khuyến khích - giải thưởng sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam VIFOTEC 2007.
+ Cục Sở hữu Trí tuệ cấp Bằng độc quyền sáng chế cho sản phẩm CỐNG LẮP GHÉP theo quyết định số 26036/QĐ-SHTT ngày 14/12/2009.
V. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Công tác thuỷ lợi phục vụ khai thác và phát triển bền vững vùng ĐBSCL đòi hỏi phải xây dựng hàng ngàn công trình ngăn mặn giữ ngọt mà vấn đề mấu chốt là công trình được đầu tư xây dựng phải vừa đảm bảo vận hành tốt, vừa bền trong môi trường chua mặn và chi phí xây dựng hợp lý.
Kết cấu cống lắp ghép là giải pháp công nghệ mới lần đầu tiên được nghiên cứu và áp dụng ở ĐBSCL. Kết quả của giải pháp đã góp phần khắc phục cơ bản những hạn chế tồn tại của kết cấu cống truyền thống và giải quyết các yêu cầu cấp thiết của thực tiễn sản xuất : hạn chế đền bù giải phóng mặt bằng, tiến độ thi công nhanh, chi phí đầu tư thấp tạo điều kiện ổn định đời sống và sản xuất của nhân dân.
Tuy niên, trong quá trình ứng dụng vào thực tiễn vẫn cần có nhiều nghiên cứu bổ sung để hoàn thiện hơn. Có nhiều vấn đề mà chỉ sau khi đi vào khai thác một thời gian những ưu khuyết điểm của công nghệ này mới bộc lộ hết, chẳng hạn như: kết cấu tiêu năng phòng xói ở các công trình này khá đơn giản, ít tốn kém, dễ thi công có bảo vệ được lòng kênh trước năng lượng của dòng chảy qua cống hay không? Cửa van sẽ vận hành ra sao sau khi cả mùa mưa nằm ở dưới nước? Mức độ kín nước và sức chịu tải của hàng cừ dự ứng lực?,... và hiệu quả đầu tư của các cống theo công nghệ này như thế nào?. Hơn nữa, qua các công trình đã thi công và vận hành trên cho thấy cống lắp ghép bằng cừ BTCT dự ứng lực còn phụ thuộc nhiều vào công nghệ vật liệu xây dựng cống mang tính độc quyền (cừ BTCT dự ứng lực, joint cao su kín nước) và hạn chế trong việc tuyển chọn nhà thầu xây dựng (do hệ thống thiết bị thi công đóng cừ là loại chuyên dùng, đặc chủng, ít nhà thầu đáp ứng,…).
Chính vì vậy, rất cần có sự tổng kết, đánh giá, đúc kết những ưu nhược điểm của công trình này để có cơ sở khoa học hoàn thiện công nghệ, khắc phục những hạn chế của kết cấu cống nhằm mục đích mở rộng phạm vi ứng dụng, tạo điều kiện thuận lợi chuyển giao rộng rãi Cống lắp ghép vào sản xuất. Đề nghị các cấp có thẩm quyền cho phép tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện công nghệ để mở rộng phạm vi ứng dụng góp phần phát triển kinh tế xã hội, đẩy nhanh quá trình Công nghiệp hóa và Hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn ở ĐBSCL.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
[1]. Phan Thanh Hùng và nnk, Báo cáo tổng kết đề tài NCKH & PTCN cấp Bộ: “Nghiên cứu công nghệ thiết kế, chế tạo và thi công kết cấu cống lắp ghép bằng cừ bản BTCT dự ứng lực cho vùng giao động mực nước thấp ở ĐBSCL”, năm 2006.
[2]. Phan Thanh Hùng và nnk, Báo cáo tổng kết đề tài NCKH & PTCN cấp Tỉnh: “Nghiên cứu cơ sở khoa học nhằm đề xuất một số kết cấu cống cải tiến phù hợp vùng chuyển đổi sản xuất phía Bắc quốc lộ 1A tỉnh Bạc Liêu”, năm 2007.
[3]. Tô Văn Thanh và nnk, Báo cáo tổng kết đề tài NCKH & PTCN cấp Tỉnh “Nghiên cứu cải tiến kết cấu cống lắp ghép bằng cừ BTCT dự ứng lực cho vùng Nam Cà mau ”, năm 2007.
[4]. Phan Thanh Hùng và nnk, Báo cáo tổng kết đề tài NCKH & PTCN cấp Tỉnh “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ cống lắp ghép bảo vệ vườn cây ăn trái vùng ảnh hưởng lũ tỉnh Tiền Giang ”, năm 2009.
Tác giả:TS. Tô Văn Thanh, ThS. Phan Thanh Hùng, ThS. Doãn Văn Huế
ThS. Nguyễn Trọng Tuấn, ThS. Phan Quý Anh Tuấn
Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam
Viết và chia sẻ bình luận: Like để cập nhật các bài viết qua facebook. Cảm ơn bạn đã ghé thăm, ủng hộ!

About Tứ Đoàn Ngọc

Đoàn Ngọc Tứ chào mừng bạn tới với website và cảm ơn bạn đã ủng hộ trang này.