Cố bộ trưởng Hà Kế Tấn: Tên ông vang mãi trong bản hùng ca Thủy lợi

Like và chia sẻ bài viết

Ông mất vào một ngày cuối thu năm 1998. Lúc ấy tôi đang đi công tác Tây Nguyên, không kịp về tiễn đưa ông lần cuối nên tôi cứ băn khoăn mãi. Đến ngày 30 tháng 6 năm 2012 vừa qua, ông vừa tròn 100 tuổi. Ông đã đi xa, thật xa, nhưng trong lòng tôi và những người làm thuỷ lợi qua nhiều thế hệ vẫn còn giữ mãi hình bóng vị Bộ trưởng Bộ Thuỷ lợi họ Hà, với niềm kính phục và nhớ tiếc khôn nguôi…

Cố Bộ trưởng Bộ Thuỷ lợi Hà Kế Tấn sinh ra tại làng cổ Đường Lâm, Thị xã Sơn Tây, Hà Nội. Sống trong thời kỳ thực dân Pháp đô hộ nước ta, ông được giác ngộ cách mạng từ rất sớm. Năm hai mươi tư tuổi (1936), ông đã tham gia phong trào Đông Dương Đại hội tại Hà Nội và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm ông vừa tròn 25 tuổi. Từ đó, chàng trai trẻ người Xứ Đoài Hà Kế Tấn luôn đi tiên phong trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc của đất nước. Với lòng nhiệt tình cách mạng và tư chất thông minh, dám nghĩ dám làm, ông luôn được Đảng tín nhiệm, dân tin yêu. Ông đã từng giữ các chức vụ quan trọng: Trưởng Ban công vận Xứ uỷ Bắc kỳ, Xứ uỷ viên phụ trách giành chính quyền Nam Định, Hà Nam (1945 ), Chỉ huy trưởng mặt trận Hà Nam Ninh ( 1947 ), Tư lệnh liên Quân khu 3 ( 5-1951), Tư lệnh kiêm Chính uỷ Đại đoàn 350 làm nhiệm vụ tiếp quản và bảo vệ Thủ đô, Bộ trưởng Bộ Thuỷ lợi. Ông cũng đã từng là Uỷ viên Trung ương Đảng khoá III, IV, là Đại biểu Quốc hội từ khoá II đến khoá VII.v.v. Được Đảng và nhân dân giao nhiều trọng trách, dù ở cương vị công tác nào ông cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ…

Vừa là  tướng tài vừa là “lính chiến”…
Bây giờ, mỗi khi nhớ về “Huyền thoại Bắc-Hưng-Hải”, nói đến cố Bộ trưởng Hà Kế Tấn,  tôi vẫn luôn nghĩ về ông như vậy. Đối với ngành Thuỷ lợi, Hà Kế Tấn là một trong 5 vị Bộ trưởng có nhiều đóng góp quan trọng, hết sức quý báu, được lịch sử ghi nhận. Khởi đầu cho công cuộc “ Vắt đất ra nước, thay trời làm mưa”, làm “ tư lệnh” một ngành hết sức quan trọng là Thuỷ lợi, cái tên Hà Kế Tấn đã gắn với  “con rồng vàng châu thổ” là công trình đại thuỷ nông Bắc - Hưng - Hải. Còn nhớ, vào sáng ngày 27 tháng 8 năm 1958, sau khi mọi công việc chuẩn bị kỹ thuật đã hoàn tất, Thường trực Chính phủ đã họp dưới sự chủ trì của Bác Hồ để bàn kế hoạch khởi công xây dựng khu đầu mối công trình Bắc-Hưng-Hải. Cuộc họp được bàn xét rất cụ thể, chi tiết về tổ chức thi công, lao động, vật tư, tài chính…nhưng chưa biết chọn ai làm chỉ huy trưởng công trường. Lúc đó, Bác nêu ra tiêu chí: Chỉ huy trưởng công trường phải là người nhiệt tình, thông minh, sâu sát, quyết đoán, đặc biệt phải có óc tổ chức, động viên, tập hợp được trí tuệ của tập thể… Sau cuộc họp này, chính Bác là người chọn ông Hà Kế Tấn, hiện đang cầm quân, giữ chức Tư lệnh trưởng Đại đoàn 350, làm Chỉ huy trưởng công trình đặc biệt đó. Nhận nhiệm vụ Chỉ huy trưởng công trình đại thuỷ nông Bắc-Hưng-Hải, ông băn khoăn lắm, nhưng nỗi băn khoăn duy nhất chỉ là về chuyên môn. Ông đã mạnh dạn báo cáo với Bác Hồ: Thưa Bác, cháu cầm súng, làm chính trị đã quen, nhưng thực sự không hiểu gì về thuỷ lợi, bỡ ngỡ vô cùng. Nay được giao nhiệm vụ chỉ huy, cháu lo không hoàn thành nhiệm vụ…Lúc đó, Bác cười hiền hậu, động viên: “ Chú chưa biết gì thì cứ vừa làm vừa học rồi khắc biết, trước chú chưa học quân sự ngày nào mà sao vẫn chỉ huy bộ đội đánh giặc được; biết đánh giặc thì sẽ biết làm thuỷ lợi.”

Đáp lại niềm tin của Bác Hồ, ông hăng hái lên công trường Bắc-Hưng-Hải, dồn hết tâm huyết, sức lực cho việc chỉ huy, tổ chức xây dựng công trình. Trong bộn bề công việc, khó khăn chất chồng ở một công trường lớn, có yêu cầu kỹ thuật cao như Bắc-Hưng-Hải, những ngày đầu làm “ Tư lệnh” công trình, ông lo lắng đến mất ăn mất ngủ. Trong hồi ký, cố Bộ trưởng Hà Kế Tấn cũng thừa nhận: “Gần mười năm chinh chiến, trận mạc, nhiều lúc cũng lo lắng về trách nhiệm. Nhưng trước một sự nghiệp vĩ đại như xây dựng công trình Bắc-Hưng-Hải này, lại được Bác giao, tôi mất ăn, mất ngủ, lo lắng không hoàn thành tốt nhiệm vụ. Chỉ huy trưởng một đại công trường thuỷ lợi hàng mấy vạn người, nhưng lúc mới bắt đầu tôi có biết đâu là “ta luy”, là “góc nghỉ”, “góc trượt”của đất, đâu là ứng suất bê tông…”Quả là khó, vô cùng khó. Nhiều lúc tôi cứ tự hỏi mình: Mình là kỹ sư thuỷ lợi, được ăn học đàng hoàng, bao năm đèn sách, cày xới với chuyên môn mà công việc đôi khi còn lúng túng. Thế mà ông Hà Kế Tấn không một ngày ngồi học dưới mái trường thuỷ lợi, lại có thể chỉ huy cả một đại công trường thuỷ lợi thành công, ghi dấu ấn để đời cho con cháu mai sau! Thì ra, theo nhiều bậc lão thành cùng làm việc với ông trên công trường Bắc-Hưng-Hải hồi đó cho biết: Ông là một hình mẫu về sự khiêm tốn, giản dị,  ham học hỏi. Ông tranh thủ học ngay các kỹ sư giúp việc cho mình, học ngay trên đường ra công trường hay trong giờ nghỉ giữa buổi giao ban. Nhiều đêm, trên lán công trường đầu mối Xuân Quan, một mình ông thắp đèn dầu học tới 2 – 3 giờ sáng. Trong những cuộc họp bàn về giải pháp kỹ thuật, biện pháp tổ chức thi công, ông rất chịu khó lắng nghe ý kiến của các cán bộ kỹ thuật, chuyên gia trong và ngoài ngành để tích luỹ thêm kiến thức chuyên môn cho mình và đưa ra những quyết định đúng, kịp thời đáp ứng yêu cầu. Vừa là “tướng” vừa là ‘thợ”, Hà Kế Tấn là người “chuyên” làm việc mới, việc khó. Mỗi khi nhắc đến ông, nguyên Thứ trưởng  Bộ Thuỷ lợi Đinh Gia Khánh lại nói tới điều đó với lòng cảm phục của một cộng sự thân thiết. Còn tôi, dẫu không được làm việc trực tiếp với ông nhưng mỗi khi trở lại thăm công trình hoặc nghe các đồng chí lãnh đạo cũ của ngành thuỷ lợi kể về Bắc-Hưng-Hải, tôi lại càng ngưỡng mộ vị Bộ trưởng có tài về tổ chức, tập hợp lực lượng, luôn “xung trận”, đi tiên phong  trong những công việc mới mẻ, đầy khó khăn phức tạp. Với cương vị Chỉ huy trưởng công trường đại thuỷ nông Bắc -Hưng - Hải, Hà Kế Tấn luôn bám sát hiện trường, giải quyết nhanh và chuẩn xác các vấn đề kỹ thuật phức tạp trong thiết kế và thi công. Với tác phong quân sự nhưng lại rất mềm dẻo, luôn lắng nghe, hoà đồng với quần chúng, ông luôn được mọi người tin tưởng, nể trọng. Nhiều người kể lại rằng, cố Bộ trưởng Hà Kế Tấn làm việc rất nguyên tắc nhưng thường không ra lệnh hoặc lên lớp cán bộ cấp dưới. Khi gặp việc khó, việc quá phức tạp, ông thường tự làm thử hoặc tập hợp một số người giỏi, nhiệt huyết làm trước để rút kinh nghiệm cho mọi người làm theo. Trên công trường Bắc-Hưng-Hải ngày ấy, cố Bộ trưởng Hà Kế Tấn luôn là người mang phong cách của vị tướng giỏi cầm quân và tác phong của người “ lính  chiến “ đêm ngày lăn lộn với thực tế. Bất kể ngày nắng, hôm mưa, ông thường có mặt ở ngoài hiện trường trực tiếp chỉ đạo thi công và động viên cán bộ, dân công. Ông rất thương người lao động và có cách “dưỡng quân” để làm việc rất hiệu quả. Khi biết dân công, bộ đội gánh đất một lúc 4 sọt, có người gánh 6 sọt một lần ( theo chỉ tiêu chỉ 2 sọt ), ông hạ lệnh cấm gánh 6 sọt, riêng phụ nữ chỉ được gánh 2 sọt. Quyết định tưởng như nhỏ ấy nhưng lại có tác dụng lớn, động viên được người lao động làm việc lâu dài, góp phần hoàn thành công việc vượt tiến độ…

Hôm đến dự Lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh và khánh thành nhà tưởng niệm cố Bộ trưởng Hà Kế Tấn tại Đường Lâm, Sơn Tây, ngắm bức ảnh ông trong bộ quần áo giản dị, quần xắn cao quá đầu gối, vác cuốc đi bên Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong Lễ khởi công cống Xuân Quan, tôi lại càng xúc động. Hơn năm mươi năm đã trôi qua, nhiều người vẫn còn nhớ đến kỳ tích: Chỉ ba tháng, sau ngày khởi công Bắc-Hưng-Hải ( ngày 1-10-1958 ), nước từ sông Hồng đã được mở vào đồng, kịp phục vụ làm vụ chiêm năm 1958; sau 7 tháng thi công, cụm công trình đầu mối cống Xuân Quan đã hoàn thành, với khối lượng công trình khổng lồ: Xây đúc 7.500m3 bê tông, xây lát đá 226.000m 3, đào đắp gần 3 triệu m3 đất… Trong niềm vui chung, thành tích lớn lao ấy của cán bộ, nhân dân trên công trường Bắc Hưng Hải, có một phần công sức không nhỏ của vị “tướng” tài Hà Kế Tấn.

...Và người đặt nền móng cho phương châm chiến lược của ngành Thuỷ lợi
Tôi còn nhớ, khoảng giữa năm 1959, khi công trình đại thuỷ nông Bắc-Hưng-Hải đã cơ bản hoàn thành hạng mục đầu mối cống Xuân Quan, ông Hà Kế Tấn lại được giao nhiệm vụ làm Thứ trưởng Bộ Thuỷ lợi, đặc trách công tác nghiên cứu trị thuỷ và khai thác Hệ thống sông Hồng. Việc nghiên cứu quy hoạch trị thuỷ và khai thác lợi dụng tổng hợp Hệ thống sông Hồng là một vấn đề mang ý nghĩa rất lớn về kỹ thuật và kinh tế, là công trình nghiên cứu khoa học đặc biệt quan trọng của ngành thuỷ lợi lần đầu tiên được thực hiện ở nước ta. Nhận trọng trách này, ông cũng lo lắm, lại mất ăn mất ngủ như lúc làm Chỉ huy trưởng công trường Bắc-Hưng-Hải, nhưng ông quyết tâm thực hiện. Với tư tưởng chỉ đạo là khắc phục dần tình trạng bị động trong phòng chống thiên tai, khai thác nguồn nước bằng các công trình đơn lẻ…chuyển sang chủ động trị thuỷ và khai thác thuỷ lợi từng Hệ thống lưu vực sông, nhằm phục vụ có hiệu quả, bền vững sự nghiệp xây dựng, phát triển kinh tế -xã hội, ông đã tập trung chỉ đạo nghiên cứu, khảo sát, đưa ra phương án tối ưu. Để thực hiện những công việc mang nặng tính khoa học, công nghệ,  ông đặc biệt chú trọng đến việc tìm kiếm nhân tài, phát triển vững chắc lực lượng cán bộ khoa học kỹ thuật cho trước mắt và hướng tới chiến lược lâu dài. Có thể nói, trong những năm đầu thành lập ngành Thuỷ lợi, nguồn nhân lực về khoa học kỹ thuật từ con số không, ông đã tập hợp cán bộ các loại, từ trung cấp đến đại học trong nước và ngoài nước về, nhanh chóng xây dựng nên một Văn phòng Uỷ ban có đủ các bộ môn hoạt động, đủ sức phối hợp với chuyên gia Trung Quốc, Liên Xô trước đây, phục vụ quy hoạch trị thuỷ và khai thác sông Hồng. Việc làm này đã đạt được những kết quả to lớn, tạo nền móng cho việc quy hoạch thuỷ lợi - thuỷ điện sau này là: Hoàn thành lập sơ đồ khai thác bậc thang sông Đà và Hệ thống các sông Lô - Gâm; cùng với Liên Xô (cũ) hoàn thành Luận chứng kinh tế-kỹ thuật thuỷ điện Hoà Bình .v.v.

Trong thời gian còn làm Thứ trưởng cũng như khi mới về làm Bộ trưởng Bộ Thuỷ lợi (đầu năm 1963 ), ông Hà Kế Tấn rất băn khoăn về quan điểm, thực hiện “ 3 chính” trong công tác thuỷ lợi: “ Dân làm là chính, công trình nhỏ là chính, giữ nước là chính” trong một bộ phận lãnh đạo ngành. Những năm đầu thập kỷ 60 của thế kỷ XX , cũng từ chủ trương “ 3 chính “ ấy mà các tổ chức quản lý thuỷ nông, quản lý đê điều, các đội công trình bị giải tán; công tác đầu tư xây dựng, quản lý, khai thác công trình, phòng chống lụt bão…kém hiệu quả. Thực trạng ấy khiến ông lo lắng, băn khoăn lắm. Ngày đêm ông trăn trở, mong muốn mở ra một phương châm chiến lược cho ngành thuỷ lợi. Với cương vị là người đứng đầu ngành, ông cho tổ chức nhiều cuộc họp, lắng nghe ý kiến nhiều chiều và sang tận Trung Quốc tham quan, học tập kinh nghiệm, sau đó đề xuất với Trung ương Đảng, Chính phủ của ta và bạn phương án kết hợp xây dựng công trình lớn, vừa và nhỏ; nhà nước và nhân dân xây dựng, quản lý… Từ đó, ngành thuỷ lợi thay đổi chuyển từ “ 3 chính” thành phương châm “ 3 kết hợp “. Có “ 3 kết hợp” làm “kim chỉ nam” cho hoạt động, từ vụ chiêm xuân 1964-1965, đồng bằng Bắc Bộ được tập trung đầu tư xây dựng với tốc độ nhanh và mạnh. Nhiều công trình mấu chốt trong hệ thống để phát huy hiệu quả đầu mối Bắc- Hưng-Hải bị đình chỉ từ năm 1960, được tiếp tục khởi công hàng loạt, sớm đưa vào khai thác, phục vụ tốt sản xuất và đời sống nhân dân…Vụ lúa chiêm năm 2009, nhân kỷ niệm 50 năm công trình Bắc-Hưng-Hải, tôi đã về Bình Giang, Gia Lộc (Hải Dương), Ân Thi, Tiên Lữ (Hưng Yên) - nơi “ rốn nước đồng chiêm” thuở xa xưa, nay đã trở thành những vùng quê trù phú, có nhiều “cánh đồng 12 tấn, 13 tấn”. Trong lúc hàn huyên, nhớ lại chuyện cũ, nhiều cán bộ lão thành, cụ già vẫn còn xúc động nhắc đến” ông Tấn thuỷ lợi” khiến tôi cũng nao lòng…

Có thể nói, trong lịch sử ngành thuỷ lợi, mười  năm làm Bộ trưởng Bộ Thuỷ lợi ( 1963 – 1973 ) của ông Hà Kế Tấn  là  thời kỳ khó khăn, gian khổ nhất, là những năm tháng “ giông bão” về thiên tai, địch hoạ. Tôi còn nhớ, trong khoảng 10 năm ấy, có 4 trận lũ sông Hồng lớn nhất, nhiều năm đại hạn nhất, và cũng là thời kỳ giặc Mỹ leo thang ra miền Bắc, ném bom đánh phá các công trình thuỷ lợi, đê điều dữ dội nhất. Trong những năm làm Bộ trưởng Bộ Thuỷ lợi và cả những thời gian sau này nữa, ông Hà Kế Tấn luôn là người đặc biệt quan tâm đến công tác bảo vệ, quản lý đê điều và phòng chống lụt bão. Cùng với phương châm “ 3 kết hợp”, ông cũng là người đề xuất, là tác giả của phương châm “4 tại chỗ” trong phòng chống lụt bão, giảm nhẹ thiên tai ( nhân lực tại chỗ, vật tư thiết bị tại chỗ, hậu cần tại chỗ và chỉ huy tại chỗ ). Coi trọng công tác đê điều, phòng chống lụt bão luôn là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, cố Bộ trưởng Hà Kế Tấn đặc biệt nhấn mạnh đến sự tham gia tích cực của người dân; thực hiện nhà nước và nhân dân cùng làm, sử dụng hiệu quả nguồn lực của nhà nước; đồng thời huy động mọi nguồn lực của cộng đồng, của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước…Phương châm “ 4 tại chỗ “được quán triệt sâu rộng tới tận thôn, xã và được vận dụng linh hoạt, đạt hiệu quả cao trong ứng phó với lũ, bão, thiên tai. Lịch sử đã ghi nhận công lao to lớn của ông trong việc đưa toàn bộ hệ thống đê Bắc Bộ từ không chịu được mức lũ 12,5m tại Hà Nội (đê sông Hồng )và 5,3 m tại Phả Lại (đê sông Thái Bình) lên bảo đảm mức chống lũ tương ứng là 13,1m và 6,3 m…

Trong những năm gần đây, tôi có dịp đi nhiều vùng quê, đến nhiều công trình thuỷ lợi, gặp nhiều người trực tiếp tham gia làm công tác thuỷ lợi và cả bà con nhân dân vùng hưởng lợi…lại càng hiểu hơn, thấm hơn phương châm “3kết hợp” và “4 tại chỗ”- phương châm chiến lược cho ngành thuỷ lợi mà cố Bộ trưởng họ Hà đã đặt ra từ nửa thế kỷ trước. Thấm nhuần tư tưởng chỉ đạo của Bác Hồ về công tác thuỷ lợi là: “ Làm cho đất với nước điều hoà với nhau để nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng chủ nghĩa xã hội “, những” phương châm vàng”của cố Bộ trưởng Hà Kế Tấn đề ra đã được ngành Thuỷ lợi thực hiện nhuần nhuyễn, rộng khắp từ Trung ương đến địa phương, đem lại hiệu quả thiết thực trong nhiều thập kỷ qua và còn nguyên giá trị trong sự nghiệp xây dựng và phát triển thuỷ lợi hôm nay…

Sau mười năm gắn bó với ngành Thuỷ lợi, do yêu cầu của cách mạng, cố Bộ trưởng Hà Kế Tấn được chuyển sang làm Bộ trưởng đặc trách sông Đà để chỉ đạo việc xây dựng Công trình thuỷ điện Hoà Bình, rồi ông lại được giao trọng trách làm Bí thư Đảng Đoàn Toà án Nhân dân Tối cao.v.v.Dù ở đâu, với cương vị công tác nào, cố Bộ trưởng Hà Kế Tấn cũng luôn nêu cao tấm gương đạo đức Cách mạng, hết lòng vì nhân dân, luôn đi đầu trước phong trào của quần chúng; đặc biệt đối với công tác thuỷ lợi, ông đã ghi dấu ấn đậm nét trong truyền thống vẻ vang của Ngành Thuỷ lợi Việt Nam. Ghi nhận công lao đóng góp to lớn của cố Bộ trưởng Bộ Thuỷ lợi Hà Kế Tấn, Đảng và Nhà nước đã tặng thưởng ông Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều phần thưởng cao quý khác…

Nhưng với ông, có một phần thưởng cao quý không gì có thể so sánh là: Trải qua bao thăng trầm của công cuộc trị thuỷ, chinh phục thiên nhiên, hình ảnh cố Bộ trưởng Hà Kế Tấn vẫn luôn khắc sâu trong tim những người làm thuỷ lợi Việt Nam với lòng kính trọng, tự hào. Còn mãi cố Bộ trưởng Hà Kế Tấn - tên ông vang mãi trong bản hùng ca Thuỷ lợi!
Hải Dương, vụ lúa chiêm 2012
Hà Quang www.hoithuyloi.vn
Viết và chia sẻ bình luận: Like để cập nhật các bài viết qua facebook. Cảm ơn bạn đã ghé thăm, ủng hộ!

About Tứ Đoàn Ngọc

Đoàn Ngọc Tứ chào mừng bạn tới với website và cảm ơn bạn đã ủng hộ trang này.