Kỳ2: GS. Nguyễn Sinh Huy - Cuộc đời và các công trình Thủy Lợi

Like và chia sẻ bài viết
Ý tưởng của các luận văn tốt nghiệp của các sinh viên do thầy Huy hướng dẫn, thông thường được ông gợi ý cho họ tiến hành khảo sát, tổng hợp từ các đợt đi thực tế tại địa phương hoặc một công trình cụ thể nào đó. Thực tiễn đã chứng tỏ tại mỗi vùng, mỗi công trình lại có một chế độ thủy văn khác nhau phụ thuộc vào những điều kiện riêng, nhưng nó cũng tuân theo một quy luật chung phụ thuộc vào môi trường, đìa hình, khí hậu và những điều kiện tự nhiên khác... Điều này đòi hỏi mỗi sinh viên phải có tư duy độc lập và cần thiết phải vận dụng những nguyên lý cơ bản đã học vào thực tiễn sinh động, muôn mầu muôn vẻ của cuộc sống. Vốn là người nhẹ nhàng, có kiến thức sâu rộng và nhiệt tình trong làm việc và giảng dạy, ông vừa là người thầy, vừa là người anh, người bạn của sinh viên. Sự yêu mến và quý trọng của các sinh viên đối với ông đã làm cho ông giảm bớt nỗi cô đơn trong những ngày xa cách Lô-ra và bé Tuyết Mai, hai người thân yêu của ông đang còn ở phương trời xa thẳm.
Câu chuyện về cuộc đời của GS. Nguyễn Sinh Huy với cách viết đầy tình cảm của tác giả ĐXH như đưa người đọc cùng sống trong những năm tháng khó khăn nhưng tuyệt với mà GS. Nguyễn Sinh Huy đã trải qua, người đọc hồi hộp và chờ đợi diễn biến của câu chuyện sẽ được diễn ra tiếp theo như thế nào, đó là thành công mà tác giả ĐXH mang lại cho chúng ta...
Đấu tranh không mệt mỏi vì hạnh phúc gia đình
Sau khi bé Tuyết Mai ra đời, Lô-ra bắt đầu đặt quyết tâm cho việc đoàn tụ gia đình. Chị đã viết đơn thư lên chính quyền địa phương và gửi về Matxcơva để xin phép được trở về Việt Nam. Nhưng vào thời đó việc này đâu có dễ, Ucraina và nước ta khi ấy còn có quá nhiều chênh lệch về điều kiện làm việc, mức sống, về văn hoá và quan hệ xã hội, do vậy Đại sứ quán Việt Nam tại Liên Xô đã không cho phép. Nhận được tin không vui, Lô-ra vốn là người luôn nhìn mọi việc một cách lý tưởng đã vô cùng thất vọng.
Hàng ngày, buổi sáng sau khi đưa bé Tuyết Mai đến nhà trẻ, Lô-ra đến cơ quan, hết giờ làm việc buổi chiều, chị ghé vào của hàng thực phẩm mua bánh mỳ, sữa và thức ăn, đến nhà trẻ đón con về nhà và chuẩn bị bữa ăn chiều cho hai mẹ con. Tối, khi con gái đã ngủ, chị lại ngồi viết thư cho chồng và mỗi tuần đều không quên viết thư gửi về Bộ Ngoại giao Liên Xô và Sứ quán Việt Nam để xin cho hai mẹ con được trờ về Việt Nam, hàng trăm lá thư như vậy, không biết đã có bao nhiêu lá được chuyển đến các nhà ngoại giao của hai nước nhưng nguyện vọng của chị vẫn chưa được giải quyết.
Ngày 5 tháng 8 năm 1964, giặc Mỹ leo thang dùng không quân đánh phá miền Bắc, cả nước bước vào cuộc chiến tranh ngày càng ác liệt. Miền Bắc vừa là tiền tuyến, vừa là hậu phương lớn của cả nước, mọi hy vọng của hai người hầu như phải tạm quên đi vì mọi thời gian, sức người, sức của đều phải tập trung cho cuộc chống Mỹ cứu nước làm sao có thể tính đến nguyện vọng riêng tư. Cuối năm 1966, một dịp may đã đến, trên các báo và đài phát thanh của Ucraina đồng loạt đưa tin chào mừng Đoàn đại biểu Việt Nam đi thăm Ucraina, hành trình của Đoàn có ghé thăm thành phố cảng Ôđetxa, là một trong hai cảng lớn của Liên Xô khi đó vận chuyển hàng hoá và vũ khí giúp Việt Nam. Vào buổi chiều, khi Đoàn đi thăm cảng, Lô-ra dắt con đứng chờ tại cổng Ủy ban xô viết thành phố, nơi đoàn Việt Nam ở và làm việc. Khi đoàn trở về Lô-ra bế con xin vào gặp nhưng các vệ binh đã kịp thời ngăn chặn vì đây là những việc chưa từng có vào thời bấy giờ. Sau hơn ba giờ kiên trì đứng đợi, lúc này đoàn Việt Nam dự xong buổi chiêu đãi của Ủy ban thành phố và chuẩn bị đi nghỉ, một sĩ quan vệ binh thấy hiện tượng lạ nên đã cho mời chị vào để làm rõ tình hình. Mẹ con chị vừa vào chỗ ngồi thì khi nhìn qua cửa sổ thấy có ba, bốn người Việt Nam đang đi dạo ngoài vườn, Lô-ra liền bế con chạy vụt ra vườn. Lập tức hàng chục vệ binh đuổi theo và vây quanh chị nhưng chị đã kịp rút ở túi ra và đưa cho một cán bộ của Việt Nam một bức thư. Nhưng khi đọc lá thư của Lô-ra mọi người đã hiểu tình cảnh của chị là hơn 4 năm qua chị đã rất nhiều lần làm đơn xin về Việt Nam nhưng không được chấp nhận, bắt buộc chị phải dùng cách liều lĩnh này. Sự việc đã nhanh chóng được giải quyết, lá thư được đưa lại cho đoàn Việt Nam và mẹ con Lô-ra được đưa về nhà. Trưởng đoàn đại biểu Việt Nam trong chuyến đi thăm Ucraina lần đó là ông Tôn Quang Phiệt, khi ấy là Ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Câu chuyện trên được ông Tôn Quang Phiệt báo cáo lại với thủ tướng Phạm Văn Đồng và đích thân Thủ tướng có ý kiến với Sứ quán Việt Nam tại Liên Xô cho phép để hai mẹ con họ sang Việt Nam và coi như một trường hợp đặc biệt. Thế là vào mùa thu năm 1967, Lô-ra cùng con gái Tuyết Mai được về Hà Nội.
Năm 1970, ông bà sinh cô con gái thứ hai Nguyễn Quỳnh An. Có thêm một thành viên mới, gia đình thêm niềm vui nhưng cũng xuất hiện nhiều khó khăn mới, nhất là cuộc chiến tranh phá hoại ngày càng leo thang ác liệt. Các trường đại học bắt đầu sơ tán khỏi Hà Nội, gia đình ông Huy theo Trường đại học Thủy lợi lên tận Mai Siêu, tỉnh Bắc Giang, ở nhờ một gia đình nông dân địa phương. Thiếu thức ăn cho các con, nhất là Tuyết Mai quen uống sữa, nay phải thay bằng cơm gạo nhiều lần cô bé bị đau bụng và ốm yếu. Một nách hai con nhỏ, mỗi lần nấu ăn phải nhóm bếp củi, khói vào mắt cay sè nhưng Lô-ra vẫn hết lòng chăm sóc các con và tin tưởng vào chiến thắng cuối cùng của đất nước Việt Nam, quê hương thứ hai của bà. Sau ngày hiệp định Paris được ký kết tháng 1 năm 1973, gia đình trở về Hà Nội, cô giáo Lô-ra được điều về dạy tiếng Nga tại trường đại học Ngoại thương. Với tinh thần trách nhiệm và nhiệt tình trong giảng dạy, sinh viên rất yêu quý và tôn trọng bà, do vậy Lô-ra thường theo lớp từ năm đầu tiên đến năm cuối cùng và các sinh viên của bà đều vượt qua các kỳ thi tiếng Nga một cách dễ dàng. Có thể do không hợp với khí hậu ở vùng nhiệt đới cộng với khó khăn của thời kỳ chiến tranh và sinh hoạt đạm bạc, Lô-ra bắt đầu bị viêm phế quản nặng, nhưng bà vẫn kiên trì đi bộ từ ngõ Văn Chương đến trường, một ngày cả đi và về hơn tám cây số, kể cả khi trời mưa gió nhưng không bao giờ bà bỏ một buổi dạy nào. Ở trường cũng như ở nhà bà luôn dịu dàng và tận tình giúp đỡ các bạn đồng nghiệp cũng như hàng xóm. Có lẽ tình yêu đối với gia đình, con người và đất nước Việt Nam đã làm cho bà có sức chịu đựng phi thường và đứng vững trước những thử thách cam go. 

 Đào Xuân Học
Viết và chia sẻ bình luận: Like để cập nhật các bài viết qua facebook. Cảm ơn bạn đã ghé thăm, ủng hộ!

About Tứ Đoàn Ngọc

Đoàn Ngọc Tứ chào mừng bạn tới với website và cảm ơn bạn đã ủng hộ trang này.