Kỳ cuối: GS. Nguyễn Sinh Huy - Cuộc đời và các công trình thủy lợi

Like và chia sẻ bài viết
Chia ly 
Năm 1978, ông Huy dẫn một số cán bộ và sinh viên đi nghiên cứu tình hình thủy văn các tỉnh vùng Tây Nguyên. Sau đó ông được Trường Đại học thủy lợi bổ nhiệm làm Giám đốc Trung tâm ĐH-1. Gia đình ông rời Hà Nội vào sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh; cũng còn một lý do khác nữa, bà Lô-ra bị viêm phế quản, trong khi khí hậu ở miền Bắc không ổn định, mùa đông và mùa hè nhiệt độ chênh lệch quá nhiều, làm cho bệnh của bà ngày càng nặng hơn, cả nhà chuyển vùng vào Nam với nhiều hy vọng mới.
Theo định hướng phát triển nhà trường, ông Huy cùng đồng nghiệp bắt đầu tổ chức xây dựng Trung tâm ĐH-1 từ chỗ chủ yếu làm nhiệm vụ quy hoạch, tư vấn, nghiên cứu khoa học dần dần trở thành cơ sở đào tạo và sau đó trở thành Cơ sở 2 Đại học Thuỷ lợi ngày nay.
Năm 1981, con gái lớn Tuyết Mai tạm biệt cha mẹ sang Liên Xô học khoa ngôn ngữ trường Đại học Ngoại ngữ Moris Thorez.
Mùa đông năm 1982, bà Lô-ra phải nằm bệnh viện, kết quả chuẩn đoán của bác sỹ cho thấy bà bị ung thư và buộc phải điều trị bằng nhiều giải pháp. Sau khi được phẫu thuật ở thành phố Hồ Chí Minh, các bác sỹ khuyên bà cần tiếp tục điều trị ở bệnh viện có điều kiện tốt hơn. Ông quyết định để bà sang Mat-xcơ-va điều trị. Trước ngày ra đi, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh mời ông Huy đến, sau khi hỏi thăm sức khoẻ của bà Lô-ra ông Chánh văn phòng đã trao cho ông Huy món quà 200 đô la Mỹ và nói rằng tuy chưa có tiền lệ về việc này, nhưng đây là sự quan tâm đặc biệt của thành phố đối với ông bà. Ngày đó số tiền đó là cả một gia tài, vì tiền lương hàng tháng của cán bộ, giảng viên quy đổi ra chỉ tương đương khoảng 10 đô la.
Nhờ có các phương pháp y học hiện đại và các giáo sư giỏi của Liên Xô ngày ấy, việc điều trị cho bà có tiến triển khá thuận lợi. Nhưng các bác sỹ khuyên bà không nên trở lại Việt Nam vì khí hậu nhiệt đới, tình trạng ô nhiễm sau chiến tranh ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ và chứa đựng nhiều rủi ro. Nhiều người bạn cũng khuyên ông Huy nên ở lại để chăm sóc vợ. Một người bạn của ông nói: Tôi thấy chị ấy đã vì anh mà về Việt Nam một thời gian rất dài, chịu đựng biết bao gian khổ của thời chiến tranh, nay bị bệnh hiểm nghèo, anh nên ở lại cùng với chị ấy, để chị ấy yên tâm điều trị; với học hàm Phó giáo sư, anh có thể làm biên tập viên tại Nhà xuất bản “Mira” (nhà XB Thế giới của Liên Xô trước đây)” và việc này chúng tôi đã có bàn bạc rồi, kể cả việc anh có thể đưa cháu nhỏ đang còn ở nhà sang Liên Xô học tập. Đó là một ưu ái lớn của bạn bè và đất nước Xô Viết đối với ông và gia đình, nhưng bà Lô-ra không đồng ý. Bà vẫn muốn ông trở về nhà tiếp tục công việc và khi sức khoẻ tốt hơn bà sẽ lại trở về cùng ông. Có lẽ trong những năm tháng sống và làm việc tại Việt Nam, đất nước mà bà rất đỗi yêu quý này đã để lại trong bà những ấn tượng vô cùng sâu sắc. Đó là một quyết định đã gây “sốc” đối với nhiều người. Vì ngày ấy, nước ta còn quá nghèo, cả ngày xếp hàng để lo bữa ăn. Từ chiếc áo may ô, chiếc lốp xe đạp, đến mét vải, cân gạo, lạng thịt, quả trứng, hộp sữa... đều phải mua bằng tem phiếu, còn ở Liên Xô thời bấy giờ mọi thứ hàng hoá đều dồi dào và đối với nhiều người, kể cả người dân thuộc nhiều nước khác trên thế giới thì được sống và làm việc tại Mat-xcơ-va là điều lý tưởng và không ít người cho rằng đó là một thiên đường trên trái đất. Ngoài ra nơi đó còn là Tổ quốc của bà, nuôi dưỡng bà khôn lớn. Mặt khác theo lời cảnh báo của thầy thuốc thì việc trở về Việt Nam, đồng nghĩa với chấp nhận sự nguy hiểm đối với mạng sống của bà.
Mùa hè, ông Huy trở về thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục công việc quản lý đoàn ĐH-1 và các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học mà ông đang còn dang dở. Bốn tháng sau, vào một buổi sáng, ông ở nhà một mình đang cặm cụi với những bài toán về thủy văn, thủy lực, bỗng có tiếng động, ông nhìn ra thấy một phụ nữ ôm bó hoa rất to gần như trùm kín cả khuôn mặt, đó là Lô-ra. Thì ra bà bay từ Mat-xcơ-va về Việt Nam, trên chuyến bay transit qua Phnôm-pênh. Tại đó, bà đã chọn mua một bó hoa hồng trắng, thứ hoa mà ông yêu nhất, mang lên máy bay để kịp về mừng sinh nhật ông vào hôm đó, 17 tháng 10 năm 1983, ngày ông tròn 51 tuổi. Tuy bay gần 24 giờ và thời gian chờ đợi nhưng trên khuôn mặt của bà không hề lộ ra mệt mỏi, Lô-ra tươi cười, kể cho ông nhiều chuyện về bạn bè, về những ngày xa ông và cả những câu chuyện vui đầy hóm hỉnh.
Đúng như lời các bác sĩ đã cảnh báo, về nhà được vài tháng thì bệnh của bà lại tái phát, sức khoẻ suy giảm nhanh....Mùa xuân, mùa hạnh phúc nhất của mỗi gia đình, ông đưa bà sang lại Mat-xcơ-va và trở vào bệnh viện... Nhưng lần này thì các bác sĩ giỏi nhất cũng phải bó tay. Bà đề nghị ông đưa bà trở về Ô-đet-xa quê hương bà, thăm ngôi trường lần đầu tiên hai người gặp gỡ, ra bờ biển Đen, nơi hai người thường ngồi bên nhau ngắm hoàng hôn rơi dần vào biển cả. Những ngày cuối cùng bà luôn căn dặn Tuyết Mai khi học xong hãy trở về Việt Nam thay bà chăm sóc bố và em, hãy làm việc thật tốt để xứng đáng với sự quan tâm của đất nước. Sau này các con của bà một người trở thành tiến sỹ, một người là thạc sĩ, đều được mời làm việc ở nước ngoài với mức thu nhập cao nhưng các chị vẫn trở về đất nước cùng với cha theo nguyện vọng của mẹ.
Một tháng, sau ngày trở về quê hương Ucraina bà đã ra đi mãi mãi, khi đang ở độ tuổi 45.
Đối với ông Huy, Lô-ra đã ra đi, nhưng ý chí mạnh mẽ của bà, tình yêu của bà dành cho gia đình, cho đất nước và con người Việt Nam vẫn mãi mãi là chỗ dựa tinh thần lớn nhất đối với ông, giúp ông tăng thêm nghị lực và niềm tin để suốt đời cống hiến cho đất nước. 
Các công trình khoa học 
Từ năm 1980, giáo sư Huy được cử tham gia các chương trình nghiên cứu khoa học và làm chủ nhiệm nhiều đề tài cấp Nhà nước; trong đó có 11 đề tài thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, 3 đề tài ở vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, tham gia 2 đề tài khác. Ông cũng được giao chủ trì 31 đề tài do cấp Bộ, cấp Tỉnh và Thành phố quản lý. Có những công trình quan trọng về tính hiệu quả và tính xã hội sâu sắc đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của cả khu vực đông dân cư và có diện tích lớn như Đồng bằng sông Cửu Long, Thoát lũ ra biển Tây, Đồng Tháp Mười, chống úng ngập thành phố Hồ Chí Minh...
Ông cũng đã chủ trì 10 đề tài nghiên cứu và tính toán nguồn nước phục vụ việc lập Luận chứng và Thiết kế các công trình thuỷ điện như Trị An, Thác Mơ, Hàm Thuận – Đa Mi (1981-1993); tham gia lập dự án các công trình tiêu thoát nước cho đô thị như Luận chứng kinh tế kỹ thuật cải tạo hệ thống tiêu nước Tân Hoá – Lò Gốm, Nhiêu Lộc - Thị Nghè (1992-1993); Luận chứng KTKT và Thiết kế khu sinh thái văn hoá Vĩnh Lộc (1994-1996), lợi dụng tổng hợp kho nước Dầu Tiếng (1984) và v.v... Nhiều vùng ở Nam Bộ như Long An, thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu, sông Tiền, sông Hậu, Đồng Tháp, Tứ giác Long Xuyên, bán đảo Cà Mâu... đều có các công trình nghiên cứu của ông.
Hơn 3 năm ở Tây Nguyên ông đã để lại một công trình nghiên cứu khá độc đáo, với đề tài “Nghiên cứu động thái ẩm trên đất bazan, chuyển động của nước trong đất bazan” và đã thiết lập hệ thống quan trắc dòng chảy thử nghiệm trên đất bazan, xuất phát từ lượng mưa, nước chảy ra sông bao nhiêu? thấm xuống đất bao nhiêu?. Dựa vào kết quả nghiên cứu này ông và đồng nghiệp đã rút ra những thông số cơ bản làm cơ sở để nghiên cứu các công trình khác.
Ý tưởng thoát lũ ra biển Tây của giáo sư Huy là một tư duy khoa học đầy sáng tạo, bằng cách: xây dựng thêm một số công trình mới, cải tạo các công trình đã có, kể cả kênh Vĩnh Tế , nhằm chuyển một phần nước của sông Hậu thoát về biển Tây, vừa giảm áp lực nước cho vùng tứ giác Long Xuyên, vừa đồng thời sử dụng nước ngọt trong mùa lũ để cải tạo đất phèn vùng Tứ giác Hà Tiên. Theo số liệu của năm 1997, trong vùng có diện tích 489.935 hecta, nhưng có đến 253.186 hecta là đất bị nhiễm phèn, và 12.100 ha bị nhiễm mặn. Sau mùa lũ 1996, trước những khó khăn lớn của đồng bằng sông Cửu Long do bị ngập lụt, ý tưởng kiểm soát lũ tràn qua biên giới được ông đưa ra nhưng không phải được sự đồng tình ngay từ ban đầu. Khi đó ông đã nghỉ hưu và về làm việc tại Phân viện Địa Lý thuộc Trung tâm Khoa học tự nhiên và công nghệ Quốc gia (TTKHTN&CNQG, nay là Viện khoa học và công nghệ Việt Nam). May mà ý tưởng của ông được Giáo sư Viện sỹ Nguyễn Văn Hiệu khi đó đang là Giám đốc TTKHTN&CNQG biết đến và Viện sỹ đã mời ông trình bày với Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Thủ tướng vốn là người đang có nhiều trăn trở về phát triển kinh tế - xã hội của Đồng bằng sông Cửu Long và bằng sự nhạy cảm chính trị của mình, chỉ sau một buổi làm việc, tuy chưa kiểm tra các kết quả tính toán, nhưng ông đã hoàn toàn tin vào ý tưởng của giáo sư Huy và quyết định cho phép đề án được tiếp tục nghiên cứu chi tiết để triển khai thực hiện.
Đề án đã được đánh giá cao, được tặng giải thưởng của TTKHTN&CNQG và do tính cấp bách của yêu cầu thực tế, công trình đã được Chính phủ đồng ý cho cơ quan chức năng nghiên cứu chi tiết và thực hiện vào năm 1997.
Năm 2000 – một trận lũ lịch sử đã xảy ra, công trình Thoát lũ ra biển Tây đã đứng vững trước một thách thức lớn và phát huy hiệu quả. Vào năm này kênh Vĩnh Tế và hệ thống thoát lũ đã vận chuyển được 13 tỷ m3. Nước phù sa sông Hậu chảy sâu vào nội đồng vùng Tứ giác Long Xuyên từ 30 đến 40 km, đã có 8 tỷ m3 được sử dụng để thau chua, rửa phèn so với 2,5 tỷ m3 trước đây. Ngay trong 5 năm đầu tiên đã khai hoang được 50.000 ha đất nông nghiệp, tạo nguồn nước ngọt cho 200.000 ha đất tự nhiên, 150.000 ha đất phèn được cải tạo, hơn 200.000 người dân thoát khỏi cảnh thiếu nước sinh hoạt hàng ngày, môi trường đã tốt hơn, cá Linh là biểu hiện của môi trường trong lành đã về đến Kiên Giang, chim đàn trở về nhiều hơn trước; riêng tỉnh Kiên Giang, năm 2002 đã thu hoạch được 2,5 triệu tấn lương thực so với 1,6 triệu tấn những năm chưa có công trình. Đến nay, sau 10 năm vận hành, hệ thống thoát lũ biển Tây ngày càng phát huy hiệu quả toàn diện, các mục tiêu tổng hợp của công trình như ngăn lũ, thoát lũ, cải tạo môi trường, tạo nguồn, giữ nước và phối hợp thuỷ lợi – giao thông – dân cư được thực hiện đồng bộ.
Đồng Tháp Mười (ĐTM), nơi có diện tích 743.690 ha, trong đó 294.000 ha là vùng đất trũng, sình lầy, nước ứ đọng nhiều năm, bị nhiễm phèn, nhiễm mặn. Hằng năm lưu lượng nước tràn về sớm và dồn dập khoảng từ 40 đến 60 tỷ m3, tổng lưu lượng lớn nhất thông thường từ 8.000 đến 12.000 m3/s, trong điều kiện lũ kín. Vì vậy, việc kiểm soát lũ, cải tạo đất đai, cải thiện môi trường, ... để khai thác tổng hợp tài nguyên của vùng ĐTM đòi hỏi phải nghiên cứu và tính toán chi tiết để tìm phương án tốt nhất. Giáo sư Huy đã bỏ ra nhiều công sức để nghiên cứu vùng này, từ năm 1982 đến 1985, chủ trì đề tài: Chế độ thuỷ văn vùng ĐTM –(thuộc Chương trình điều tra tổng hợp cấp nhà nước 60-02); năm 1996 với các đề tài nhánh: Vấn đề xâm nhập mặn vào vùng ĐTM, Vấn đề lũ lụt phục vụ khai thác và cải tạo ĐTM , Vấn đề nước vùng ĐTM , Vấn đề điều khiển lũ ĐTM – (thuộc Dự án Điều tra đánh giá diễn biến Tài nguyên – Kinh tế - Xã hội vùng ĐTM; năm 1999 ông chủ trì đề tài cấp nhà nước “Cơ sở khoa học cho các phương án thoát lũ Đồng Tháp Mười”.
Năm 2003, ông nghiên cứu “Chế độ nước phù sa đến vùng ĐTM và vấn đề khai thác phù sa” thuộc đề tài “ Thực trạng và giải pháp tổng thể khai thác tiềm năng tự nhiên mùa lũ vùng ĐTM ”(đề tài thuộc cấp Viện KH&CN Việt Nam do PGS.TS Hồ Chín làm chủ nhiệm).
Năm 2003, 2004, ông phối hợp với Cơ sở 2 Đại học Thủy lợi tiếp tục nghiên cứu đề tài cấp nhà nước do GS.TS Đào Xuân Học chủ trì: “Vấn đề thoát lũ và kinh tế - xã hội phục vụ phát triển bền vững vùng ĐTM”. Mặc dù không phải là chủ nhiệm đề tài nhưng ông là linh hồn của nhóm nghiên cứu, người đưa ra nhiều ý tưởng sáng tạo để giải quyết vấn đề thoát lũ và phát triển kinh tế - xã hội của vùng Đồng Tháp Mười. Đây là đề tài đề cập tương đối toàn diện những yêu cầu tổng hợp về phát triển bền vững vùng ĐTM.
Sau khi đề tài được Hội đồng khoa học cấp Nhà nước nghiệm thu, Bộ NN&PTNT đã đồng ý giao cho Đại học Thủy lợi lập Dự án nghiên cứu tiền khả thi về công trình thoát lũ cho vùng ĐTM. Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, nếu được phép xây dựng, dự án chắc chắn sẽ mang lại những hiệu quả to lớn cho đất nước. 
Tác giả: Đào Xuân Học
Viết và chia sẻ bình luận: Like để cập nhật các bài viết qua facebook. Cảm ơn bạn đã ghé thăm, ủng hộ!

About Tứ Đoàn Ngọc

Đoàn Ngọc Tứ chào mừng bạn tới với website và cảm ơn bạn đã ủng hộ trang này.