Trao đổi ý kiến về ý tưởng "Đê biển Vũng Tàu - Gò Công"

Like và chia sẻ bài viết

Phan 1
Mấy năm gần đây báo chí bên nhà thường hay đăng tin các thành phố Việt Nam bị ngập lụt vào muà mưa, nhất là TP Hồ Chí Minh lại còn bị ành hưởng nặng nề của triều cường. Nhiều công trình tiêu thoát đã được khởi sự song tôi nghĩ điều cần phải làm thêm là luôn giữ thấp mực nước sông Sài gòn bằng cách tránh triều cường. 

Qui hoạch Thành phố Ariul sau khi xây dựng đê + san lấn biển xong
Hơn nữa nhiều tài liệu của Ủy Hội sông Mekong đã đặt vấn đề phèn của ĐBSCL đồng bằng sông Cửu Long trong các vùng ĐTM Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên và Cà Mau. Giải pháp ém phèn đã được đề cập rõ ràng trong cuốn sách “Sử dụng và cải tạo đất phèn đất mặn “ do GS.TS. Đào Xuân Học và TS Hòang Thái Đại.
Do đó tôi đã nghĩ đến đập ngăn sông đặt tại cửa sông Soài Rạp để khi triều lên quá cao,
thoát lũ trong mùa mưa và ém phèn chống mặn trong mùa kiệt.
Nay có dự án ĐBVTGC đê biển Vũng Tàu – Gò Công thì tôi chỉ mong dự án thành hiện thực càng sớm càng tốt.
Tôi có hai ý kiến muốn chia sẻ với ủy ban đã đề xuất dự án:
A – Thêm đập xàlan ngăn sông Vàm Cỏ để ém phèn vào mùa kiệt cho ĐTM
B - Việt Nam tự thiết kế và sản xuất máy thủy điện củ hành bulbe đặc biệt cho dự án

A - Dự án ĐBVTGC sẽ thoát lũ chống ngập úng cho ĐBSCL và TP Hồ Chí Minh,
rửa phèn được song không ém phèn được cho ĐTM.
Chẳng hạn vào mùa kiệt ĐBVTGC khó giữ được, trong kênh rạch và sông vùng ĐTM, mực nước ngọt cần thiết để giúp ém phèn trong đồng ruộng. 

Cống điều tiết phía cửa sông Dongjinsau khi san lấp hoàn thành.
Nếu có thêm 1 đập xà lan ngăn sông Vàm Cỏ như đập Thảo Long ở Thưà Thiên Huế thì công tác ém phèn sẽ có thể thực hiện dễ dàng hơn.
B - Để sản xuất 2.109 KWh điện , với cột nước vận hành rất thấp dao động 0-4mwcmeter water column thì ĐBVTGC phải được trang bị cả mấy trăm tua bin loại trục nằm ngang dưới đáy, đường kính chừng 3000mm với hiệu suất khoảng 80% . Thật vậy với chiều sâu trung bình 6m và biên động triều -3m - +3m thì đường kính tua bin khó có thể lớn hơn 3 thước để có thể khai thác tuabin trong thời gian cột nước cao nhất hạ lưu ở -3m mà tuabin không bị lòi lên khỏi mặt nước.
Có thể dùng Orthogonal turbine, tuabin có trục thẳng góc với dòng chảy xem DOE/EE/15669-T1 technical report helical reaction turbine do ts Alexander Gorlov ; sẽ rẻ nhưng hiệu suất chỉ vào khoảng 30%.
Trong trường hợp nào cũng vậy, nếu phải nhập cảng tất cả thì kinh phí sẽ rất nặng! ! !! và vì kém kinh tế dự án phát điện có thể sẽ không được thực hiện.
Để cho thuỷ điện trong ĐBVTGC kinh tế, theo thiển ý của tôi thì VN cần phải tự thiết kế một loại tuabin bulbe tuabin củ hành trục ngang đặc biệt cho vùng bờ biển Việt-nam có biên độ triều tương đối thấp +/- 3m vì tuabin củ hành thông thường sẽ quá đắt và không thể có hiệu suất luôn ở mức tối đa khi cột nước hữu dụng biến đổi từ 4 mwc xuống 0 mwc.
Tuabin củ hành đặc biệt cho ĐBVTGC có thể được thiết kế theo chiều hướng sau đây:
- Bánh xe công tác có 3 cánh với độ nghiêng cố định.
- Không có vành cánh hướng.
- Vận tốc quay biến động theo cột nước nhờ dùng điện tử công suất; nếu vận tốc quay của tổ máy biến động theo luỹ thừa 0,5 của cột nước thì hiệu suất luôn được giữ gần mức tối đa.
Thêm điện tử công suất vào sẽ làm tăng giá của máy phát điện song giá thành tổng cộng có thể được giảm thiểu :
o Nhờ không có các cơ cấu điêù khiển độ nghiêng của cánh hướng và của cánh quạt bánh xe công tác nên giá thành của tuabin sẽ giảm khoảng 30%
o Nhờ số tổ máy rất lớn cả trăm tổ rất có thể giá mua điện tử công suất cũng sẽ giảm và trong tuơng lai tua bin này sẽ rẻ hơn tua bin củ hành thông thường với vành cánh hướng và độ nghiêng cánh công tác dao động.
o Nhất là nếu Việt Nam tự thiết kế và sản xuất tại chỗ thì giá thành sẽ còn rẻ thêm. Hơn nữa thiết bị trong đê biển và trong đập ngăn sông của Việt Nam sẽ không phụ thuộc vào nhập cảng nữa.
Loại tua bin này, tôi tin chắc Việt Nam có thể thiết kế và sản xuất được trong tương lai không quá xa. Hai đặc tính khác của tuabin đặc biêt này có thể khai thác được:
1- Có thể dùng để bơm: Lưu lượng Q11 qua tua bin loại bulb tăng theo vận tốc quay n11.
nếu rotor phát điện và bánh xe công tác được kéo cho quay nhanh hơn vận tốc quay lồng thì tua bin bulb sẽ thành máy bơm có trục theo dòng chảy.
2- Nhờ không có vành cánh hướng, và nhờ bánh xe công tác chỉ có 3 cánh quạt cho nên chỉ cần mở tất cả van và giữ cho tổ máy không quay là cá lớn nhỏ có thể bơi qua tổ may. Kể như là có luồng cá nằm trong thân đập tránh khỏi gánh nặng phải xây luồng cá hữu hiệu; vì hiện nay chưa có luồng cá nào thật hữu hiệu cho các loài cá ở biển Đông và ĐBSCL.
TSKS hưu trí Vĩnh Phong
126 chemin de Plate Rousset
38330 Biviers France

Phan 2
TS. Tô Văn Trường:Người lãnh đạo tài giỏi, phải biết dùng thời cơ là cách tốt nhất để vượt thách thức. Không chỉ chờ đón thời cơ, phải tạo ra thời cơ. Bỏ lỡ thời cơ trong nhiều trường hợp chính là gây ra thách thức. Vượt được thách thức là tạo ra thời cơ. Công việc của chúng ta là : Tạo và dùng thời cơ, biết và vượt thách thức. Có hai loại thời cơ và thách thức : loại ta tạo ra hoặc gây ra cho ta, và loại người ta tạo ra hoặc gây ra cho ta. Trong hai loại thì tốt nhất là thời cơ do ta tạo ra, nguy nhất là thử thách do người khác tạo ra. Thời cơ và thách thức do ngoài ta, là do con người hoặc do thiên nhiên, mà do thiên nhiên cũng là do con người vòng qua thiên nhiên. Chung quy là do con người tạo ra hoặc gây ra cho nhau. Tạo ra và gây ra từ trong nước, từ nước ngoài, từ thế giới, từ thời đại. Thời cơ có loại cơ bản và có loại vụt qua. Thách thức có loại truyền kiếp và có loại trước mắt.
Giải pháp lâu dài và giải pháp ngắn hạn không trái nhau nhưng không thể hoàn toàn trùng nhau. Cần nhận biết chuẩn xác và kịp thời cả thời cơ và thách thức: tính chất của thời cơ và tính chất của thách thức, nguồn gốc sâu xa, nguyên nhân trực tiếp, các tác nhân thuận lợi và đối nghịch, các nguồn lực có thể huy động cho giải pháp, chiều hướng biến động của thời cơ và thách thức. Nhận biết được như vậy là đã có chừng nửa phần của giải pháp. Trong giải pháp, điều quan trọng nhất, công phạt nhất không phải là vạch ra cơ sở lý luận, quan điểm chỉ đạo, nguyên tắc nền tảng, phương châm nhất quán vv...mà là nêu rõ và thực hiện những việc làm thiết thực, cụ thể, khi cần thì cụ thể đến chi tiết, làm những gì, ai làm, nguồn lực các mặt lấy ở đâu, nếu là giải pháp phức tạp trong phạm vi không gian và thời gian rộng lớn thì tổng tư lênh là ai, chỉ huy trưởng từng mặt trận bộ phận là ai, làm theo lịch trình nào, làm bằng cách nào, theo dõi để sơ kết, tổng kết, điều chỉnh giải pháp nếu cần thiết, đúc kết thành những bài học kinh nghiệm ra sao vv
Một trong những vấn đề nghiêm trọng gây bức xúc trong người dân, cản trở việc phát triển kinh tế xã hội ở TP.HCM là ngập lụt do mưa, thủy triều và xả nước ở các hồ chứa phía thượng lưu. Nhiều năm qua, thành phố đã tốn không biết bao tiền của, công sức nhưng cho đến nay hiệu quả chống ngập vẫn như một thách đố lớn! Các dự án chống ngập trước đây do thiếu tầm nhìn về quy hoạch và không có “nhạc trưởng” đủ sức mạnh chỉ huy thống nhất nên các giải pháp đưa ra không mang tính hệ thống, hiệu quả thấp.
Để hỗ trợ thành phố giải quyết bài toán chống ngập, Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn đã trình Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 1547/QĐ-TTg ngày 28/10/2008 phê duyệt Dự án quy hoạch thủy lợi chống ngập úng khu vực thành phố Hồ Chí Minh với kinh phí 11.500 tỷ đồng. Ngay từ ngày ấy, khi tham gia hội thảo, một số chuyên gia đã băn khoăn, trăn trở, không tán thành dự án quy hoạch thủy lợi chống ngập của Bộ vì mới chỉ chống ngập do thủy triều chủ yếu cho vùng 1 bờ hữu sông Sài Gòn – Nhà Bè, không có tính tổng hợp, thiếu tầm nhìn xa, đê và cống quá nhiều, vận hành phức tạp, hiệu quả kinh tế xã hội không cao. Các bài viết đăng tải trên báo Tuổi Trẻ, Tuổi Trẻ cuối tuấn, Sài Gòn tiếp thị, Người Lao Động vv…của các nhà khoa học và người dân rất đáng suy ngẫm.
Qua nghiên cứu thực tế, nhất là các bài học kinh nghiệm chống ngập lụt và chiến lược tiến ra biển của Hàn Quốc, Hà Lan đối phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng có xu thế ngày càng khắc nghiệt và phức tạp, Tổng cục Thủy lợi đã đưa ra ý tưởng mới là xây dựng tuyến đê biển Vũng Tầu-Gò Công. Dự án này có tính tổng hợp cao, đa mục tiêu, liên quan trực tiếp đến vùng đất trũng thấp thuộc lưu vực sông Vàm Cỏ và hệ thống sông Đồng Nai, bao gồm khu vực Đồng Tháp Mười và khu vực thành phố Hồ Chí Minh.
Dự kiến Tuyến đê biển nối Vũng Tàu với Gò Công
Mục tiêu của dự án:
Chống lũ lụt và ngập úng cho toàn vùng TP. Hồ Chí Minh trước mắt và lâu dài, tăng cường khả năng thoát lũ, chống ngập úng, chống xâm nhập mặn cho TP. Hồ Chí Minh và vùng Đồng Tháp Mười trong điều kiện biến đổi khí hậu và nước biển dâng; phòng chống thiên tai và các tác động từ biển cho toàn bộ khu vực TP. Hồ Chí Minh và vùng Đồng Tháp Mười rút ngắn khoảng cách giao thông, tạo sự liên kết giữa các tỉnh miền Tây với Vũng Tầu và các tỉnh ở Nam Trung Bộ, mở rộng các khu đô thị mới cho TP. Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Long An, Tiền Giang, phát triển du lịch, điện năng và phát triển kinh tế xã hội cho khu vực.
Nội dung đề xuất dự án:
Xuất phát từ nhu cầu thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, quản lý nước và phát triển bền vững kinh tế xã hội trong vùng, dự án đê biển bao gồm một tuyến đê dài 32 km, xuất phát từ Vũng Tàu đến Gò Công, chiều sâu nước trung bình 6 m, nơi sâu nhất 12m và một cống kiểm soát triều, thoát lũ và các âu thuyền phục vụ giao thông thủy, mặt đê rộng 50m. Sau khi đê được xây dựng sẽ tạo được một hồ chứa với diện tích mặt nước 56.000ha chưa kể diện tích bán ngập, dung tích hồ chứa khoảng 3,3 tỷ m3 chưa kể khối lượng nước ở trong các sông khoảng hơn 1 tỷ m3, trục giao thông kết nối Vũng Tàu với miền Tây.
Những tác động tích cực của dự án:
Kiểm soát lũ, chống ngập lụt và các thiên tai từ biển: Thông qua cống kiểm soát triều ở đê, khống chế mực nước trong hồ theo yêu cầu; với diện tích mặt nước 56.000 ha và dung tích hồ chứa 3,3 tỷ m3, có thể chứa lũ, chứa nước mưa khi triều lên, khi triều rút thì xả nước mưa và lũ, như vậy khả năng thoát lũ của các sông sẽ tăng lên tạo điều kiện thoát lũ vùng Đồng Tháp Mười và khu vực TP.HCM. Theo kết quả tính toán sơ bộ tổng lượng nước được tiêu sẽ tăng lên xấp xỉ 2 lần trong cùng một đơn vị thời gian. Do đó mực nước trên sông sẽ được hạ thấp, tạo điều kiện tăng khả năng thoát nước mưa từ hệ thống cống rãnh trong thành phố. Con đê lớn và bền vững có thể kiểm soát các loại thiên tai từ biển như phòng chống sóng, gió bão đối với tàu bè bảo vệ tài sản và nhân dân ven biển trong khu vực. Kiểm soát xâm nhập mặn, tạo ra trục giao thông thuận lợi kết nối giữa các vùng, tạo quỹ đất rộng rãi dọc hai bên đê để xây dựng cảng biển cho Vũng Tàu, Tiền Giang và các tỉnh trong vùng. Với diện tích 56.000 ha mặt nước mới được tạo ra và còn khoảng 5.000ha vùng trũng thấp bán ngập ven hồ, ven sông chưa được sử dụng, sẽ dành một phần đất để phát triển các khu công nghiệp, du lịch, dịch vụ và các khu đô thị thuộc thành phố Vũng Tàu, Tp. HCM, Tiền Giang và Long An. Riêng TP. HCM diện tích vùng trũng thấp khoảng gần 100.000ha sẽ được khai thác hiệu quả hoặc phát triển đô thị một cách an toàn. Sử dụng năng lượng thuỷ triều, điện gió. Theo tính toán sơ bộ, nếu đầu tư xây dựng trạm thủy điện sử dụng năng lượng thủy triều có thể đem lại: Công suất lắp máy khoảng 300.000kw, điện lượng 2,0 *109 kwh đã trừ 3 tháng mùa lũ không điều hành phát điện. Phía trong đê còn là nơi dự trữ nguồn nước ngọt trong tương lai với khoảng 5 tỷ m3. Đặc biệt, không còn phải đầu tư vốn xây dựng các cống lớn và hệ thống đê trong khu vực như Cống Vàm Cỏ rộng khoảng 800m đã nghiên cứu xây dựng tiền khả thi năm 2005; cống trên sông Lòng Tàu đáy sông sâu 30m, rộng khoảng 300m và Soài Rạp rộng khoảng 3km, sâu khoảng 20m. Hệ thống 12 cống lớn và hàng loạt các cống nhỏ trong dự án chống ngập úng ở TP. HCM đã được phê duyệt đang trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư sẽ được xem xét, đánh giá lại về sự cần thiết và quy mô trong thời gian tới. Hệ thống đê sông của Long An, hệ thống đê biển của TP.HCM và vùng Gò Công của Tiền Giang khoảng 300km không cần phải xây dựng mới ở TP. HCM và nâng cấp.
Các tác động tiêu cực của dự án :
Khi xây dựng đê biển Vũng Tàu-Gò Công ngoài các mặt lợi kể trên, chắc chắn sẽ có các tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái. Cần phải tiếp tục nghiên cứu sâu và cụ thể hàng loạt các vấn đề liên quan đến chế độ thủy văn, thủy lực, biến đổi của dòng hải lưu, lòng dẫn. Nghiên cứu bài bản về đánh giá môi trường chiến lược, và tác động môi trường của các thành phần dự án đến cảng, giao thông thủy, khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ, thủy sản vv…để đưa ra các giải pháp giảm thiểu tối đa các tác động tiêu cực. Cần có một số đề tài nghiên cứu khoa học thiết thực làm cơ sở khoa học về phương pháp luận, khả thi cho việc lựa chọn tuyến và các giải pháp về kỹ thuật và công nghệ xây dựng công trình vv…
Cơ chế thực hiện
Kinh phí xây dựng đê, cống, thủy điện sử dụng năng lượng triều và đường giao thông sẽ chủ yếu do các thành phần kinh tế, các tập đoàn được hưởng lợi từ quỹ đất để xây dựng đô thị, du lịch và các dịch vụ. Nhà nước hỗ trợ kinh phí nghiên cứu, lập dự án, thiết kế và một phần trong xây dựng. Đây là cách làm đúng hướng có tính xã hội hóa cao huy động nguồn lực từ khu vực tư nhân và người dân. Ý tưởng xây dựng dự án đê biển Vũng Tàu-Gò Công còn được Ông Martien Beek bí thư thứ nhất về quản lý nước của Đại sứ quán Hà Lan hoan nghênh và sẵn sàng hỗ trợ nghiên cứu thực hiện.
Thay cho lời kết:
Biến đổi khí hậu, dẫn đến nước biển dâng đã được các nhà khoa học và các tổ chức quốc tế cảnh báo Việt Nam là 1 trong 5 quốc gia có nguy cơ bị đe dọa thiệt hại nặng nề nhất, đặc biệt là ở đồng bằng sông Cửu Long. Truyền thuyết “Sơn Tinh - Thủy Tinh” nói lên khát vọng và ý chí ngàn đời của dân tộc ta trong việc phòng chống thiên tai lụt lội. Hình tượng Sơn Tinh dâng núi, trong khi Thủy Tinh dâng nước cũng chính là hình tượng đẹp về dân tộc ta đã biết “vượt lên chính mình” trong cuộc chiến phòng chống thiên tai.
Dự án quy hoạch thủy lợi chống ngập úng cho khu vực TP.HCM được Thủ tướng phê duyệt 11.500 tỷ đồng nhưng trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư đã tăng lên gần 3 lần khoảng 30 ngàn tỷ đồng mà hiệu quả kinh tế xã hội và sức lan tỏa của dự án không thể so sánh với dự án đê biển Vũng Tàu - Gò Công Kinh phí theo tính toán sơ bộ cũng khoảng hơn 30 nghìn tỷ đồng. Nếu thực hiện dự án đê biển Vũng Tàu - Gò Công thì nhiều hạng mục công trình đã được phê duyệt của dự án quy hoạch thủy lợi chống ngập úng khu vực TP.HCM sẽ được kịp thời dừng lại, không cần thiết xây dựng để tránh lãng phí ngân sách của nhà nước, thực chất cũng là tiền thuế của nhân dân.

TS Nguyễn Trí Trinh: Với những thông tin sơ bộ, tôi thấy đây là một ý tưởng lớn cần được nghiên cứu nghiêm túc. Nếu có điều kiện chúng tôi sẽ tham gia nghiên cứu hạng mục Nhà máy thuỷ điện triều để giúp làm rõ hơn mức độ thành công của dự án. Tuy nhiên, đề nghị tác giả nên trình bày thêm vài thông số liên quan đến vấn đề chống lũ, tính khả thi của vấn đề chống lũ, chống ngập của thành phố Hồ Chí Minh, lấy ví dụ:
- Dung tích max, min của hồ, khả năng trử nước để chống lũ, tổng lượng lũ các sông đổ về hồ theo các tần suất từ đó có thể kết luận dự án về sơ bộ có thể giải quyết cho con lũ với tần suất bao nhiêu
- Sơ bộ về cơ chế vận hành các cửa thông ra biển như thế nào: Trước lũ, sau lũ vận hành các cửa ra sao, các trạng thái của hồ trước, trong và sau lũ, việc tổ hợp với triều ra sao.
Rất mong được tác giả xem xét.

Ông Nguyễn Văn Tăng – Công ty CP tư vấn & xây dựng Thủy công Sông cầu.
Ý TƯỞNG ĐÊ VŨNG TÀU – GÒ CÔNG – MỘT SỐ SAI LỆCH
Số liệucơ bản làm xuất phát điểm của Dự án chưa đúng.
- Trước tiên, những mục tiêu dự ánphụ như giao thông, phát triển kinh tế khác khôgng đề cập, ở đây tác giả chỉ nhậnxét xung quanh mục tiêu chính là chống ngập úng cho thành phố Hồ Chí Minh và phụcận. Ý tưởng dùng giải pháp Đê +Cống ngăn triều tạo nên một hồ chứa nước có nhiệmvụ điều tiết , đó là: Dùng các cống có cửa làm nhiệm vụ tiêu úng, ngăn khôngcho nước biển vào khi triều lên, hạ mực nước hồ khi triều xuống tạo dungtích phòng lũ, ngõ hầu chứa hết nước lũ lưu vực sông Đồng Nai – Sài Gòn chảyvề mà vẫn duy trì được mực nước yêu cầu chống ngập.Có một số vấn đề cho rằng bịsai lệch:
- Thứnhất- bài toán điều tiết nhằm giảm mực nước úng lụt khôngrõ. Ta biết rằng, hồ chứa muốn làm được nhiệm vụ điều tiết-hay nói cách khác,muốn chứa đủ lũ ở thượng nguồn về thì trước khi mưa xuống mực nước hồ phải thấpnhất. Biện pháp này được thực hiện bằng cách mở hết cửa cho nước từ hồ chảy rabiển khi triều xuống thấp và đón lũ về. Còn mực nước trong hồ chứa dĩ nhiên khôngthể cao hơn mức triều cường, tức là thấp hơn +1,45 đến +1,5 khi . Ở đây,đã xảy ra ngay một mâu thuẫn là: Khi triều xuống thấp nhất, phải đóng cốngngay, nhưng có thể vào thời điểm lũ chưa tập trung cao nhất, mà phải nhiều giờsau thì sao Khi đó,dung tích điều tiết sẽ đâu còn nhiều, mực nước biển đã dângcao, đê và cống ngăn triều lại trở thành vật cản lũ, phải mở cống, nếu khôngbên trong lại bị ngập.
- Thứ hai- quy mô hồ điều tiết xác địnhchưa đúng, sai số lớn. Theo Tổng Cục Thủy Lợi vàTS Tô Văn Trường có nói dung tích hồ chứa là 3,3 tỷ m3,diện tích mặt hồ là 56 000 ha. Nếu như vậy , chiều sâu chứa nước trong hồ phảiđạt 5,89 m, nhưng cái hồ mà dự án tạo ra không thể hạ mực nước xuống -4,54, trừphi có những trạm bơm khổng lồ để bơm nước ra ngoài. Định nghĩa dung tích hồ ởđây chỉ được hiểu là DUNG TÍCH ĐIỀU TIẾT, dung tích này giới hạn từ mực nướctriều thấp mà cống có thể tạo nên được đến cao trình do ta khống chế đảm bảo chốngúng ngập khoảng +1,2 – bao gồm tổn thất qua cửa cống xả lũ rồi. Giá trị nàyphụ thuộc vào từng con triều trong tháng,nếu là thời kì triều nghẽn thì ta chỉ tạo được mực nước thấp nhất khoảng +0,8 đến+1,0, dung tích điều tiết tương đương 300000 m3 – 600 000 m3 mà thôi những ngày có con triều thấp, cũng chỉ tạo đượcdung tích điều tiết khoảng 1 tỷ m3.Ta biết rằng, tổng lưu vực củacác con sông thuộc hệ thống sông Đồng Nai-Sài Gòn đổ vào hồ là 43 450 km2thì dung tích điều tiết diện tích mặt hồ chỉ chiếm 1,3 % như nêu trên là consố quá nhỏ bé. Sự nhấm lẫn này chính dẫn đến sự đánh giá không chính xác tính khả thi của ý tưởng ĐêVũng tàu-Gò Công.
- Thứba – đối phó với biến đổi khí hậu. Cứ cho là do biến đổikhí hậu, mực nước biển dâng – hay mực nước triều trung bình tăng lên nên cả mựcnước triều cao lẫn triều thấp đều dâng với giá trị như nhau, như vậy vậy dungtích điều tiết của hồ chứa vẫn không thay đổi nhiều.Với khả năng điều tiết hổnhỏ như vậy thì hiệu quả chống úng khi có biến đổi khí hậu là không có.
- Thứtư - khả năng phát điện lợi dụng thủy triều. Cả hai bàiviết đều nêu con số công xuất phát điện 300 000 Kw, điện lượng 2 tỷ kwh là điềuvô lý. Rõ ràng, với công xuất phát điện 300 000kw , máy phát phải chạy trên 6600 giờ, vậy ngay cả nhà máy thủy điện vùng núi, có hồ điều tiết lớn cũng ít dámmơ đến lượng điện như vậy khi cùng công xuất, huống chi là thủy điện lợi dụng triều. Thực rahiệu quả phát điện rất nhỏ so với hiệu qủa giao thông, tạo ngọt, khai thác kinhtế nông nghiệp mang lại, không cần thiết phải nêu.
- Những sự sai lệch trên, tuy là nhữngsố liệu cơ bản nhưng sẽ quyết định đến tính khả thi của dự án, mà sự sai lệch lạilà quá lớn.

Giảipháp công trình chưa phù hợp.
- Đầutiên, dễ thấy nhất là công trình thoát lũ trong dự án này phải đảm nhiệm tiêucho toàn bộ lưu vực hệ thống sông Đồng Nai-Sài Gòn – bao gồm các sông: Đồng Nai, Sông Bé, Sài Gòn,Vàm Cỏ Đông và Vàm Tây, một phần lưu lượng sông Tiền theo kênh Tân Thành-Lò Gạchvới lưu vực tổng cộng 43 450 km2. Lưu lượnglũ ứng với tần xuất tính toán P= 0.1% sẽkhoảng 35000 – 40 000 m3/s; với tần xuất p=5% cũng khoảng trên 25000 m3/s. Sẽ có hai bất lợi lớn: i quy mô công trình tháo lũ là khổng lồ - ướctính khẩu độ cống rộng 2500 m đến 6000 m ứng với lưu lượng nêu trên; ii muốntháo lũ, mực nước trong hồ phải dâng lên 15 cm – 20cm so với mực nước triềungoài biển. Như vậy, không những không thể hạ mực nước lũ xuống thấp mà mực nướcvùng được chống ngập lại dềnh lên cao hơn.Từ đây, thấy rằng, thật là bất hợp lýkhi người ta dồn tất cả dòng chảy của cả khu vực rộng lớn Đông Nam Bộ, một phầnTây Nguyên, một phần Nam Bộ, một ít của sông Cửu Long vào Đê Vũng Tàu _ Gò Côngrồi làm công trình điều tiết và thoát lũ ở đó. Trên thế giới, có nhiềuđê ngăn biển, nhưng vùng đất được ngăn là những vùng bờ biển lõm, các vịnh, eobiển, lưu vực kín – hay nói các khác không có các sông lớn chảy vào như ý tưởngdự án Đê Vũng tàu – Gò Công.
- Mấu chốtcủa việc chống úng lụt của dự án là dùng giải pháp điều tiết lũ trong hồ. Nhưngmục tiêu của các nhà tư vấn khó đạt được bởi khả năng điều tiết của kênh rạch ,đặc biệt là hồ chứa phải nói là vô cùng nhỏ do mặt hồ chỉ chiếm 1,3 % lưu vựcmà thôi –trong khi một số báo cáo chống úng ngập ở thành phố có nêu phải có diệntích ao hồ mức 15% trở lên mới hiệu quả. Bất lợi của giải pháp cônh trình nàychính là bất lợi của các dự án cống ngăn triều đang được thiết kế ở Thành phố HồChí Minh do Trung tâm chống ngập thành phố là chủ đầu tư. Để khắc phục nhược điểmnày, ứng với lưu vực nhỏ, họ có thiết kế các trạm bơm động lực hỗ trợ việc hạ mực nước,nhưng với ý tưởng Đê Vũng tàu – Gó Công thì không thể vì quy mô trạm bơm qúa lớn.
- Tínhkinh tế kĩ thuật dự án sẽ rất thấp. Phải nói rằng, chống ngập ở các thành phốnói chung, thành phố Hồ Chí Minh nói riêng là giải quyết vấn đề tiêu thoát nướcmưa, cụ thể từ các cửa nhận nước mưa dọc đường - ống dẫn cấp 1, cấp 2, trụcchính là quan trọng và tốn kém hơn cả. Còn giải pháp công trình dùng hổ điềutiết kết hợp công ngăn triều để hạ được một vài chục cm đem lại hiệu qủa tổngthể là rất thấp, trong khi phải đầu tư vốn xây dựng công trình lại cao. Sẽ cónhững công trình khổng lồ phải xây dựng như: Đê dài 32 km, cống tiêu lũ kết hợpngăn triều dài và ba km, những âu thuyền khổng lồ cho lượng tàu ra vào nhiềucảng lớn phía trong đê thì tổng mức đầu tư chắc chắn không dừng ở trên dưới 30nghìn tỷ đồng.
Viết và chia sẻ bình luận: Like để cập nhật các bài viết qua facebook. Cảm ơn bạn đã ghé thăm, ủng hộ!

About Tứ Đoàn Ngọc

Đoàn Ngọc Tứ chào mừng bạn tới với website và cảm ơn bạn đã ủng hộ trang này.